
Insights from recent episode analysis
Audience Interest
Podcast Focus
Publishing Consistency
Platform Reach
Insights are generated by CastFox AI using publicly available data, episode content, and proprietary models.
Most discussed topics
Brands & references
Total monthly reach
Estimated from 10 chart positions in 10 markets.
By chart position
- 🇯🇵JP · Government#17100K to 300K
- 🇰🇷KR · Government#1031K to 10K
- 🇫🇷FR · Government#1371K to 10K
- 🇻🇳VN · Government#1100K to 300K
- 🇵🇭PH · Government#3100K to 300K
- Per-Episode Audience
Est. listeners per new episode within ~30 days
95K to 291K🎙 Daily cadence·24 episodes·Last published 5d ago - Monthly Reach
Unique listeners across all episodes (30 days)
317K to 969K🇯🇵31%🇻🇳31%🇵🇭31%+7 more - Active Followers
Loyal subscribers who consistently listen
127K to 388K
Market Insights
Platform Distribution
Reach across major podcast platforms, updated hourly
Total Followers
—
Total Plays
—
Total Reviews
—
* Data sourced directly from platform APIs and aggregated hourly across all major podcast directories.
On the show
From 10 epsHosts
Recent guests
Recent episodes
Chiến tranh Trung Đông khiến Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào điện than
Jun 22, 2026
Unknown duration
Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản
Jun 15, 2026
Unknown duration
Công ước Hà Nội và phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam
Jun 8, 2026
9m 58s
Việt Nam : Các đại dự án giúp bảo tồn mục tiêu tăng trưởng 10%?
Jun 1, 2026
11m 44s
Việt Nam mua tên lửa BrahMos của Ấn Độ: Hai nước "đang tiến gần" đến thỏa thuận
May 25, 2026
9m 47s
Social Links & Contact
Official channels & resources
Official Website
Login
RSS Feed
Login
| Date | Episode | Topics | Guests | Brands | Places | Keywords | Sponsor | Length | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 6/22/26 | ![]() Chiến tranh Trung Đông khiến Việt Nam phải dựa nhiều hơn vào điện than | Cũng như nhiều nước khác, trước tình hình nguồn cung dầu hỏa bị gián đoạn do chiến tranh Mỹ-Iran, để bảo đảm an ninh năng lượng, Việt Nam buộc phải dựa vào điện than nhiều hơn cho dù làm như vậy sẽ càng khó mà thực hiện các cam kết về chống biến đổi khí hậu. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), hơn 80% lượng dầu thô và khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) đi qua eo biển Hormuz là được xuất khẩu sang châu Á. Việc tuyến hàng hải này bị phong tỏa đẩy khu vực vào tình thế vô cùng khó khăn. Đặc biệt, do nguồn cung khan hiếm, giá khí LNG đã tăng vọt ở thị trường châu Á, trong khi giá than tăng ít hơn nhiều, cho nên nhiều nước trong khu vực quay trở lại với điện than. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 12/05/2026, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt, cũng ghi nhận đây là tình hình chung của các nước châu Á: “Không chỉ riêng Việt Nam mà hầu hết nhiều nước ở châu Á và các nước lớn như Trung Quốc, Ấn Độ ... đều bị tác động. Trung Quốc là một nước có rất nhiều than, cho nên có lợi thế. Bây giờ họ quay sang sử dụng than nhiều hơn trong một thời gian, tuy cũng biết làm như thế là ảnh hưởng đến lời hứa của Trung Quốc về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính. Các chuyên gia, các công ty về quản lý năng lượng lớn thế giới đều dự báo Trung Quốc trong 5 năm tới vẫn phải dựa vào việc mở rộng các nhà máy điện chạy than, chứ không có cách nào khác cả. Ấn Độ cũng vậy. Còn những nước như Hàn Quốc và Nhật Bản trước tình hình hiện nay đều phải cho phép nâng lên tỷ lệ điện than.” Theo nhận định của Discovery Alert, trang thông tin chuyên về khai thác mỏ trên thế giới, trong bài viết đăng ngày 13/04/2026, “không giống như các quốc gia phát triển có các nguồn năng lượng đa dạng và dự trữ chiến lược dồi dào, các nền kinh tế nhỏ hơn như Việt Nam thường phụ thuộc nhiều vào nhiên liệu nhập khẩu và thiếu tính linh hoạt về cơ sở hạ tầng để nhanh chóng chuyển đổi giữa các nguồn năng lượng trong trường hợp khẩn cấp về nguồn cung. Hơn nữa, các quốc gia này còn đối mặt với tác động của thị trường khí hóa lỏng (LNG) và sự biến động giá dầu, làm trầm trọng thêm tính dễ bị tổn thương của kinh tế.” Discovery Alert ghi nhận việc Việt Nam dựa vào điện than khi chiến tranh Mỹ-Iran leo thang đã trở nên rõ nét trong tháng 3/2026, khi sản lượng điện than tăng vọt, chiếm 56% tổng sản lượng điện, mức cao nhất kể từ giữa năm 2025. Giáo sư Phạm Duy Hiển cho rằng trong thời gian tới, Việt Nam sẽ phải tiếp tục dựa nhiều vào điện than, vì các nguồn điện năng khác không đủ để đáp ứng nhu cầu: “Việt Nam hiện nay đã sống với điện than. Điện than bình thường chiếm tỷ lệ gần 50% công suất phát điện, cho nên Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Mà về điện than, Việt Nam phải đi mua thêm than của các nước như Indonesia và Trung Quốc, cụ thể là tháng 3 vừa rồi đã nhập đến mấy triệu tấn than. Dự kiến con số đó có thể sẽ phải tăng lên. Kinh phí để nhập khẩu than cũng lớn, nhưng bây giờ dầu sao thì vẫn hơn là không có. Cho nên tạm thời trong một thời gian phải sử dụng điện than và theo tôi nghĩ Việt Nam cũng chưa có cách nào khác. Còn nếu dựa vào những nguồn năng lượng khác, thì bây giờ nguồn năng lượng tái tạo cũng đã được khai thác khá nhiều rồi và cũng có tác dụng nhất định. Nhưng nguồn năng lượng này cũng hạn chế, không thể nâng lên nhiều hơn nữa. Gần đây nhiều người nói về điện hạt nhân. Nếu có được thì điện hạt nhân sẽ là một giải pháp tương đối lớn để giải quyết vấn đề thiếu điện thay cho than. Đó là một loại năng lượng sạch. Thế nhưng chưa biết là bao giờ mới có thể đặt bút ký với một đối tác bên ngoài để cung cấp nhà máy điện hạt nhân cho mình. Từ thời điểm đó thì sau hàng chục năm nữa may ra mới có điện. Kinh nghiệm của Bangladesh cho thấy nước này bắt đầu có kinh phí để xây dựng và có các hợp đồng liên chính phủ là vào năm 2017. Nhưng tới cuối năm 2026 thì may ra mới có thể đưa điện lên lưới được. Gần đây thế giới cũng hô hào đẩy mạnh điện hạt nhân, nhưng điện hạt nhân đâu có dễ làm đối với Việt Nam cũng như đối với những nước khác . Đó không phải là một công nghệ có sẵn như than. Nhà máy điện chạy than thì quá là cổ điển rồi, mua về là có thể lắp đặt và cho chạy được ngay. Còn điện hạt nhân thì cần bao nhiêu thứ: cơ sở hạ tầng, năng lượng, nhiên liệu, an toàn…. Bây giờ có một hy vọng là khí thiên nhiên từ các mỏ khí mới được phát hiện được, sẽ giúp giải quyết vấn đề cân bằng năng lượng ở Việt Nam." Thế nhưng vấn đề là hiện nay công suất điện khí còn khiêm tốn của Việt Nam càng làm hạn chế các giải pháp thay thế trong thời kỳ khủng hoảng. Các nhà máy điện khí chỉ sản xuất được 2,1 TWh trong tháng 3 năm 2026, chiếm khoảng 7% tổng sản lượng điện. Hạn chế về cơ sở hạ tầng này có nghĩa là khí đốt tự nhiên không thể đóng vai trò cơ chế thay thế tức thời khi giá năng lượng nhập khẩu tăng vọt, hoặc khi nguồn cung bị gián đoạn. Việt Nam cũng đang phải sản xuất than nhiều hơn để đáp ứng cho các nhà máy nhiệt điện. Theo báo chí trong nước, ngày 15/04, bộ Nông Nghiệp và Môi Trường đã đề nghị chính phủ cho phép tăng công suất khai thác than, cụ thể là cho phép khai thác vượt không quá 15% công suất đối với các giấy phép khai thác than đang còn hiệu lực, nhằm đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Theo bộ này, “than trong nước tiếp tục giữ vai trò là nguồn năng lượng nền tảng và năng lực khai thác thực tế của các mỏ còn dư địa để tăng sản lượng”. Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II ở tỉnh Hà Tĩnh cũng vừa được khánh thành ngày 18/04. Đây là dự án hợp tác giữa Nhật Bản và Hàn Quốc, trong đó 60% cổ phần thuộc về các công ty Nhật Bản đứng đầu là tập đoàn Mitsubishi và 40% cổ phần thuộc về Tập đoàn Điện lực Hàn Quốc. Với tổng công suất hơn 1.300MW, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng II được giới thiệu là sử dụng “công nghệ hiện đại nhất đối với các nhà máy nhiệt điện than tại Việt Nam”, làm giảm lượng tiêu hao nhiên liệu dẫn đến cắt giảm phát thải. Vấn đề đặt ra là phải làm sao hạn chế tác động của các nhà máy điện than đối với môi trường và khí hậu, bởi vì Việt Nam còn phải thực hiện những cam kết với quốc tế về chống biến đổi khí hậu. Giáo sư Phạm Duy Hiển ghi nhận: “Các nhà máy điện chạy than bây giờ cũng sử dụng những công nghệ tương đối là tiên tiến, tránh ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường nay cũng đỡ một phần là bởi vì ngày xưa các nhà máy phát ra bừa bãi từ ống khói chứ bây giờ thì có những quy chế nhất định. Các khí thải từ nhà máy điện than thì cũng đã bắt đầu được xử lý để không gây ô nhiễm môi trường. Rồi còn phải xử lý những xỉ than. Lâu lâu thì vẫn thấy nói có ô nhiễm chỗ này chỗ khác, nhưng tôi chắc là dần dần rồi cũng phải giải quyết. Ô nhiễm ở chỗ nào thì người dân ở đó sẽ phản ảnh, các cơ quan có trách nhiệm phải giải quyết. Thực ra mà nói thì dùng điện than không chỉ làm tăng lượng khí CO2, mà còn có rất nhiều khí độc khác từ nhà máy điện than thải ra. Trung Quốc đã thành công trong vấn đề này, cho nên bắt đầu từ 2006, tức là cách đây đến 20 chục năm, họ đã có quyết định của nhà nước là bắt buộc giảm phát thải các cái khí độc từ các nhà máy điện chạy than. Và họ đã thành công nhiều, tức là giảm ô nhiễm khá nhiều. Thế thì bây giờ nếu sản lượng điện than nhiều quá, thì có lẽ cũng phải đề nghị nhà nước có một cách kiểm tra toàn diện, làm thế nào để các khí phát thải ô nhiễm, không chỉ CO2 và các khí ô nhiễm khác đều thấp, phù hợp với các tiêu chuẩn về môi trường ở Việt Nam." Cũng theo chiều hướng đó, Việt Nam dự kiến sẽ đóng cửa các nhà máy điện than cũ trên 40 năm tuổi, nếu các nhà máy này không thể chuyển đổi sang sử dụng nhiên liệu sạch như hydrogen, amoniac xanh. Cụ thể, ngày 23/03, chính phủ Hà Nội đã phê duyệt "Đề án cập nhật triển khai tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng" (JETP). Sau năm 2030, chính phủ yêu cầu không xây mới nhà máy điện than, đồng thời đàm phán đóng cửa với các nhà máy có tuổi thọ trên 40 năm, không thể chuyển đổi nhiên liệu và không thể đáp ứng lộ trình giảm thải khí nhà kính. | — | ||||||
| 6/15/26 | ![]() Việt Nam : Mắt xích quan trọng trong chiến lược thay đổi quốc phòng của Nhật Bản | Tháng 04/2026, Nhật Bản “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng” để xây dựng chiến lược quốc phòng mới, trong đó có mục đích mở rộng hoạt động xuất khẩu sang cả các loại vũ khí sát thương. Một cơ chế mới cũng đã được thành lập - Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA) - nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác kỹ thuật và trang thiết bị quốc phòng. Và Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên trong chương trình OSA. Những thay đổi mới trong chính sách quốc phòng của Nhật Bản có tạo thêm những cơ hội mới cho hợp tác với Hà Nội trong lĩnh vực này không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về lĩnh vực an ninh hàng hải, Đại học New South Wales, Úc. RFI : Trả lời báo tài chính Nikkei Asia ngày 23/04/2026, ông Minoru Kihara, chánh văn phòng thủ tướng Nhật Bản, cho biết Tokyo đã cho phép “sửa đổi ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị và công nghệ quốc phòng”. Nội dung chính sách mới của Nhật Bản là gì? Tại sao Tokyo lại thay đổi chính sách vào thời điểm này ? Nguyễn Thế Phương : Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, toàn bộ tư duy chiến lược của Nhật là tập trung vô phát triển kinh tế nội địa và tư duy chiến lược của Nhật là chủ hòa. Việc Nhật Bản thay đổi “ba nguyên tắc về chuyển giao các thiết bị quốc phòng” nằm trong sự thay đổi căn bản trong tư duy quốc phòng, văn hóa chiến lược của họ kể từ khoảng đầu thế kỷ thứ XXI với sự trỗi dậy của Trung Quốc, môi trường an ninh khu vực diễn biến ngày càng phức tạp : Sự gia tăng sức mạnh của các hoạt động đơn phương mà nhiều học giả nói là “cố tình thay đổi trạng thái trật tự” của Trung Quốc, đặc biệt là những vấn đề tranh chấp trên biển. Đối với Nhật Bản, một trong những mối nguy nữa, đó là mối đe dọa từ Bắc Triều Bắc. Cũng nói thêm một chút, nước Mỹ dưới thời Donald Trump mong muốn đồng minh, đặc biệt là những đồng minh hiệp ước của họ, có những chính sách và có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong việc tự lực xây dựng năng lực quốc phòng, chứ không còn hoàn toàn dựa vào Mỹ với tư cách là một quốc gia bảo trợ an ninh nữa. Điểm thứ ba là điểm mà nhiều người bỏ qua, đó là Nhật Bản cần một cách tiếp cận mới hơn để làm mới ngành công nghệ quốc phòng trong nước. Bởi vì từ trước tới nay, Nhật Bản cấm xuất khẩu trang thiết bị quốc phòng và vũ khí ra nước ngoài. Toàn bộ hạn chế về mặt xuất khẩu này khiến cho ngành công nghiệp Nhật, đặc biệt là công nghiệp quốc phòng, bị hạn chế tính cạnh tranh, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, với những cuộc xung đột khắp nơi trên thế giới thì thị trường vũ khí bắt đầu mang lại lợi nhuận rất lớn. Và Nhật Bản dường như cũng muốn bắt đầu thay đổi cách tiếp cận và tham gia vào thị trường công nghiệp quốc phòng chủ động hơn. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản "mạnh mẽ" chống lại việc làm thay đổi nguyên trạng các vùng biển trong khu vực Và cuối cùng là yếu tố nội bộ, đó là sự thay đổi về mặt tư duy của liên minh cầm quyền Nhật Bản, bắt đầu từ thời Shinzo Abe. Cách đây khoảng 10-15 năm, đảng Dân Chủ Tự Do đề xuất Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương. Việc này cho thấy rằng đảng Dân Chủ Tự Do mong muốn đưa nước Nhật ra khỏi tư duy chủ hòa và tham gia nhiều hơn về việc tái định hình cấu trúc an ninh khu vực. Đây là bốn điểm tạm gọi là “bốn nền tảng” để giải thích tại sao Nhật Bản bắt đầu phải thay đổi nguyên tắc về chuyển giao thiết bị công nghệ quốc phòng. Với việc thay đổi nguyên tắc mới, họ sẽ bắt đầu không giới hạn thiết bị chuyển giao, mà sẽ mở rộng tới những loại trang thiết bị có thể là sát thương, ví dụ vũ khí tấn công, xe tăng, máy bay và những trang bị khác. Điểm thứ hai, Nhật Bản cho phép hợp tác phát triển các loại vũ khí song phương, một ví dụ ở đây là phát triển máy bay chiến đấu thế hệ thứ năm giữa Nhật, Anh và Ý. Điểm này sẽ cho phép Nhật chủ động hơn, thích ứng linh hoạt hơn trong chính sách phát triển công nghiệp quốc phòng. RFI : Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Nhật Bản. Việt Nam là quốc gia thứ 11 ký một thỏa thuận chuyển giao thiết bị, công nghệ quốc phòng với Nhật Bản. Cho đến nay, Tokyo hỗ trợ Hà Nội như thế nào trong khuôn khổ này ? Nguyễn Thế Phương : Trước đây, việc hỗ trợ về mặt chuyển giao thiết bị hoặc công nghệ quốc phòng song phương, chủ yếu Việt Nam sẽ là bên nhận. Những hỗ trợ này chủ yếu xoay quanh việc nâng cao năng lực nhận thức hàng hải, an ninh biển và chủ yếu liên quan đến những loại trang thiết bị vũ khí phi sát thương. Điểm nổi bật thứ nhất là việc chuyển giao tàu tuần tra và phương tiện giúp Việt Nam có thể cải thiện năng lực tuần tra hàng hải, tiêu biểu là việc Việt Nam nhận một số loại tàu cảnh sát biển loại biên của Nhật Bản. Những tàu này thực ra vẫn rất tốt và vẫn phục vụ rất hiệu quả trong quá trình Việt Nam bảo vệ lợi ích trên biển ở thời điểm hiện tại. Đây là khoản hỗ trợ lớn nhất. Đọc thêmViệt Nam, Nhật Bản đạt thỏa thuận về chuyển giao công nghệ quốc phòng Thứ hai là thiết bị giám sát công nghệ hàng hải, ví dụ radar, các thiết bị lặn, công nghệ viễn thám, thông tin liên lạc phục vụ cho quá trình tìm kiếm, cứu nạn, giám sát thực địa trên biển. Và thứ ba là đào tạo, nâng cao năng lực chuyên môn cho các lực lượng của Việt Nam, đặc biệt là lực lượng cảnh sát biển và kiểm ngư. Đây là điểm mà hai bên thường xuyên tiến hành : Trao đổi đoàn, trao đổi tàu, lực lượng Việt Nam qua Nhật Bản để tập huấn. Ở đây tập trung vào một số vấn đề phi tác chiến, ví dụ quân y, phá bom mìn, khắc phục hậu quả chiến tranh, an ninh mạng. Đối với quân đội còn có gìn giữ hòa bình. Đó là ba mảng mà Việt Nam nhận được hỗ trợ có thể nói là rõ ràng nhất từ Nhật Bản thông qua chương trình chuyển giao thiết bị và công nghệ quốc phòng. RFI : Việt Nam được Nhật Bản xác định là ứng cử viên ưu tiên cho Chương trình Hỗ trợ an ninh chính thức (OSA). Anh có thể giải thích OSA là gì ? Theo một quan chức chính phủ Nhật Bản, “quá trình này đôi khi có thể mất thời gian”. Những nước được chọn để hợp tác an ninh thông qua OSA có vai trò như thế nào trong chiến lược của Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : OSA (Official Security Assistance) là hỗ trợ an ninh chính thức. Đây là một trong những chương trình rất mới, là một công cụ đối ngoại rất mới của Nhật, được thông qua trong chiến lược an ninh quốc gia cuối năm 2022. ODA, là một khái niệm mà chúng ta rất quen thuộc, chỉ giới hạn nghiêm ngặt (ở đây từ “nghiêm ngặt” là từ quan trọng) cho phát triển kinh tế-xã hội. Cho nên nếu như Nhật Bản muốn hỗ trợ về mặt an ninh quốc phòng cho các quốc gia khác thì họ phải tạo ra một cơ chế hoàn toàn mới, chứ không phải là ODA. Thì OSA chính là kết quả. Nói một cách đơn giản OSA chính là ODA nhưng chỉ được dùng cho lĩnh vực an ninh và quân sự. Quá trình này rất mất thời gian bởi vì Nhật Bản sẽ phải thiết lập quy trình khảo sát nhu cầu của bên nhận, đối chiếu nhu cầu đó với pháp luật nội bộ của Nhật, mà chúng ta biết là pháp luật của Nhật về mặt này rất khắt khe. Và nó yêu cầu cả bên cho - ở đây là Nhật - và cả bên nhận - là các quốc gia khác - phải thảo luận rất lâu và rất kỹ để có thể đưa ra được một danh sách tiếp nhận các loại hỗ trợ cho phù hợp. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam tăng cường hợp tác an ninh, ủng hộ thương mại tự do Danh sách các quốc gia được hỗ trợ và có tiềm năng nhận được hỗ trợ OSA từ Nhật Bản vào thời điểm hiện tại chỉ tầm 12 nước, chủ yếu là các nước ở Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, trong đó có 5 nước Đông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Việt Nam và Thái Lan). Nam Á có hai nước là Bangladesh với Sri Lanka. Ngoài ra còn một số quốc đảo Thái Bình Dương, ví dụ Papua New Guinea, Tonga. Có thể thấy rõ là có Đông Nam Á, khu vực cốt lõi trong chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Nhật Bản, và đặc biệt là khu vực các quốc đảo Nam Thái Bình Dương hiện đang là khu vực cạnh tranh địa lý khá gay gắt giữa các quốc gia đồng minh của Mỹ và Trung Quốc. Gần đây, Tokyo tăng ngân sách dành cho OSA trong năm tài khóa 2026 lên tầm 112 triệu đô la. Số lượng sẽ không lớn đứng dưới góc độ về mặt ngân sách. Nhưng trong tương lai, ngân sách mà Nhật dành cho OSA sẽ ngày càng tăng và sẽ dựa vào khả năng nước Nhật thích ứng với sự thay đổi không ngừng của môi trường an ninh bên ngoài, cũng như trong chính sách đối nội của Nhật Bản, đặc biệt là việc Nhật điều chỉnh ba nguyên tắc hỗ trợ vũ khí và công nghệ quốc phòng. Trong tương lai, số lượng nước được nhận sẽ tăng lên, cũng như nội dung của OSA cũng sẽ được mở rộng hơn. RFI : Với chiến lược quốc phòng mới của Tokyo mở ra việc bán vũ khí sát thương, liệu trong tương lai, có thể có một chương trình hợp tác sâu rộng hơn về lĩnh vực này giữa Việt Nam và Nhật Bản ? Nguyễn Thế Phương : Nhiều người kỳ vọng rằng hợp tác giữa Việt Nam và Nhật Bản trong tương về chuyển giao trang thiết bị cũng như là hỗ trợ OSA của Nhật Bản đối với Việt Nam sẽ được mở rộng. Tuy nhiên như đã trình bày, quá trình này sẽ không nhanh. Thứ nhất một phần cũng bởi vì phía Nhật Bản, như đã nói, họ sẽ rất kỹ trong vấn đề lựa chọn chuyển giao, tính minh bạch ra sao. Đọc thêmNhật Bản và Việt Nam nâng cấp quan hệ lên thành đối tác chiến lược toàn diện Thứ hai, nhu cầu của Việt Nam ở đây là gì ? Nhu cầu Việt Nam vẫn sẽ có. Nhưng theo tôi, trong tương lai gần, khoảng 5 năm, hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng sẽ chủ yếu xoay quanh nội dung về an ninh hàng hải, hỗ trợ các loại tàu cảnh sát biển, hỗ trợ Việt Nam đóng một số loại tàu cho cảnh sát biển hoặc là cho kiểm ngư ở trong nước, nhận một số loại trang thiết bị liên quan tới bảo đảm an ninh hàng hải, cũng như là nhận thức hàng hải ở khu vực, hỗ trợ liên quan tới vệ tinh chẳng hạn và tiếp tục huấn luyện. Còn những vũ khí tác chiến, theo tôi, sẽ phải là tương lai xa, cho tới khi nào Nhật Bản hoàn toàn dỡ bỏ những hạn chế về mặt xuất khẩu vũ khí tiến công và cho tới khi nào ngành công nghiệp quốc phòng của Nhật Bản trở nên cạnh tranh hơn, thì khi đó Việt Nam mới bắt đầu xem xét có hay không lựa chọn các loại vũ khí tác chiến của Nhật Bản như là một lựa chọn trong quá trình hiện đại hóa quân đội. Còn ở thời điểm hiện tại, khả năng đó rất là thấp. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn anh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc. | — | ||||||
| 6/8/26 | ![]() Công ước Hà Nội và phòng chống tội phạm mạng ở Việt Nam✨ | cybercrimeHanoi Convention+3 | — | Liên Hiệp QuốcOkta | Việt NamĐông Nam Á | Hanoi Conventioncybercrime+5 | — | 9m 58s | |
| 6/1/26 | ![]() Việt Nam : Các đại dự án giúp bảo tồn mục tiêu tăng trưởng 10%?✨ | economic growthinfrastructure projects+3 | Éric Mottet | Trung Tâm Nghiên cứu về Ấn Độ - Thái Bình Dương (CREIP) | Việt NamCanada | VietnamGDP growth+7 | — | 11m 44s | |
| 5/25/26 | ![]() Việt Nam mua tên lửa BrahMos của Ấn Độ: Hai nước "đang tiến gần" đến thỏa thuận✨ | defense cooperationBrahMos missile+3 | — | tên lửa BrahMosẤn Độ+1 | Đông Nam Á | BrahMosIndia+7 | — | 9m 47s | |
| 5/18/26 | ![]() Khủng hoảng Trung Đông : Cơ hội cho hợp tác khai thác dầu khí Việt-Trung ở Biển Đông?✨ | khủng hoảng Trung Đôngkhai thác dầu khí+3 | — | Ngân hàng Đầu tư Maybank | Việt NamKuwait+3 | dầu thôkhí hóa lỏng+5 | — | 9m 08s | |
| 5/11/26 | ![]() Việt Nam, Vatican tiến gần hơn bao giờ hết đến bình thường hóa bang giao✨ | Vietnam-Vatican relationsdiplomatic relations+3 | Trần Thị Liên Claire | Tòa ThánhGiáo hội Công giáo Việt Nam+1 | Việt NamVatican | VietnamVatican+7 | — | 10m 02s | |
| 5/4/26 | ![]() Việt Nam có bị ảnh hưởng từ hợp tác dầu khí Trung Quốc - Philippines ở Biển Đông?✨ | dầu khíBiển Đông+4 | Laurent Gédéon | RFI Tiếng ViệtĐại học Công giáo Lyon+2 | Việt NamPhilippines+2 | Việt NamPhilippines+5 | — | 9m 21s | |
| 4/27/26 | ![]() Mời giáo hoàng Lêô XIV thăm Việt Nam: Một tín hiệu đáng chú ý trong quan hệ Hà Nội - Vatican✨ | Vatican relationsPapal visit+3 | Lêô XIV | Tòa ThánhAsianews | Việt NamHà Nội | Pope Leo XIVVietnam+7 | — | 9m 05s | |
| 4/20/26 | ![]() EU giúp Việt Nam đào tạo nguồn lực chất lượng cao, toàn diện cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số✨ | EU investmentvocational education+3 | Julien Guerrier | Liên Hiệp Châu ÂuChương trình Giáo dục Nghề nghiệp Việt Nam (VETVET) | Việt Nam | EUVietnam+5 | — | 8m 45s | |
Want analysis for the episodes below?Free for Pro Submit a request, we'll have your selected episodes analyzed within an hour. Free, at no cost to you, for Pro users. | |||||||||
| 4/13/26 | ![]() Trung Quốc xây tiền đồn mới ở Hoàng Sa và phản ứng chậm trễ của Việt Nam✨ | Biển Đôngxây dựng đảo nhân tạo+3 | — | NewsweekCơ quan Không gian châu Âu+1 | Hoàng SaĐá Hải Sâm+3 | Trung Quốctiền đồn+6 | — | 9m 20s | |
| 4/6/26 | ![]() Khủng hoảng dầu lửa Trung Đông tạo thuận lợi cho Việt - Nga thúc đẩy hợp tác năng lượng✨ | energy crisisVietnam-Russia cooperation+3 | — | Nhân DânIran+3 | Khu kinh tế Nghi Sơneo biển Hormuz+1 | VietnamRussia+5 | — | 9m 33s | |
| 3/30/26 | ![]() Liên Hiệp Châu Âu đưa Việt Nam vào “danh sách đen” thuế vì vấn đề minh bạch | Ngày 17/02/2026, Việt Nam bị Liên Hiệp Châu Âu đưa vào “danh sách đen” thuế. Quyết định này có thể khiến chi phí đầu tư từ các doanh nghiệp châu Âu gia tăng. Tuy nhiên, tác động lâu dài tới quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên Âu sẽ được hạn chế nếu Hà Nội cải thiện minh bạch và cơ chế trao đổi thông tin thuế. Việt Nam cũng khẳng định đã bổ sung nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thuế, tài chính, quản trị doanh nghiệp. Tại sao Việt Nam lại bị đưa vào “danh sách đen” về thuế của Liên Âu, hiện có 10 nước, chủ yếu nằm ở vùng Caribê, Thái Bình Dương và cả Nga ? Danh sách được cập nhật hai lần một năm. Lần sửa đổi tiếp theo dự kiến vào tháng 10/2026. Việt Nam cần có những biện pháp gì để có thể được rút ra khỏi danh sách trong lần cập nhất tới ? Nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Laffitte, Đại học Cergy Paris (CY Cergy Paris Université), chuyên gia về thuế quốc tế, thuế doanh nghiệp và các thiên đường thuế, kiêm thành viên của Tổ chức Quan sát Thuế Châu Âu (EU Tax Observatory), trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Tháng 02/2026, Việt Nam bị đưa vào danh sách “thiên đường thuế” của Liên Hiệp Châu Âu. Dựa vào nhưng tiêu chí nào Liên Hiệp Châu Âu đưa một nước vào danh sách này ? Sébastien Laffitte : Có lẽ trước hết cần nói rõ rằng danh sách của Liên Hiệp Châu Âu không hoàn toàn là danh sách “thiên đường thuế”, mà đúng hơn là danh sách các quốc gia không hợp tác với Liên Hiệp Châu Âu trong các vấn đề liên quan đến thuế. Sự khác biệt chính nằm ở chỗ danh sách này chủ yếu là một công cụ ngoại giao kinh tế mà Liên Hiệp Châu Âu sử dụng để đàm phán với các nước thứ ba, nhằm thúc đẩy họ điều chỉnh chính sách thuế theo một hướng nhất định. Nếu các quốc gia đó không tuân thủ các tiêu chí của Liên Hiệp Châu Âu, họ có thể phải đối mặt với các biện pháp trừng phạt. Tất cả những điều này nhằm thúc đẩy một mô hình quản trị thuế minh bạch và hiệu quả hơn. Đọc thêmLiên Âu hy vọng Việt Nam thực hiện triệt để cải cách hành chính để gia tăng hấp dẫn đối với đầu tư châu Âu Danh sách này được thiết lập từ năm 2017 và hiện bao gồm 10 quốc gia. Các quốc gia nằm trong “danh sách đen” thường là những hòn đảo nhỏ ở vùng biển Caribê hoặc Thái Bình Dương. Tuy nhiên, trong danh sách này cũng có những quốc gia lớn hơn, chẳng hạn như Nga, và gần đây nhất là Việt Nam. Các tiêu chí được sử dụng để xác định việc đưa một quốc gia vào “danh sách đen” bao gồm mức độ minh bạch về thuế, tính công bằng của hệ thống thuế - tức là không tồn tại các cơ chế thuế khuyến khích hành vi trốn thuế một cách rõ ràng - cũng như việc triển khai các biện pháp chống trốn thuế. Trong số các tiêu chí này có một yêu cầu quan trọng liên quan đến việc quốc gia đó phải tuân thủ các tiêu chuẩn về trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu của các nước khác. Chính dựa trên tiêu chí này mà Việt Nam bị đưa vào “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu, đặc biệt do còn thiếu các biện pháp bảo vệ tính bảo mật của thông tin, cũng như do thời gian mà cơ quan thuế Việt Nam cần để cung cấp thông tin thuế theo yêu cầu từ các nước thứ ba. Vì vậy, việc Việt Nam gần đây bị đưa vào danh sách này chủ yếu xuất phát từ vấn đề minh bạch thuế. RFI : Vậy quốc gia bị nhắm đến, ví dụ trong trường hợp này là Việt Nam, sẽ phải đối mặt với những hậu quả như thế nào ? Sébastien Laffitte : Cụ thể, Ủy Ban Châu Âu yêu cầu các quốc gia thành viên Liên Hiệp Châu Âu áp dụng một loạt biện pháp trừng phạt đối với những quốc gia nằm trong danh sách các nước không hợp tác về thuế. Ngoài ra, các nước thành viên cũng có thể triển khai những biện pháp trừng phạt riêng trong khuôn khổ luật pháp quốc gia của họ. Trước hết, một số biện pháp tối thiểu sẽ được áp dụng chung, sau đó từng quốc gia thành viên có quyền lựa chọn và thực hiện các biện pháp bổ sung mà họ cho là phù hợp. Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ? Nhìn chung, các biện pháp này nhằm tăng cường tính minh bạch và mức độ cảnh giác đối với các quốc gia nằm trong “danh sách đen”. Trước hết, một số quỹ viện trợ phát triển của Liên Hiệp Châu Âu sẽ không được phân bổ cho các quốc gia trong danh sách này. Thứ hai, các nước thành viên được yêu cầu áp dụng các biện pháp hành chính, bao gồm việc giám sát chặt chẽ hơn các giao dịch của công dân châu Âu - chẳng hạn như công dân Pháp - với các quốc gia trong “danh sách đen”, cũng như tăng cường kiểm toán thuế đối với các thực thể, tức là cá nhân hoặc doanh nghiệp, có liên hệ với những quốc gia này. Bên cạnh đó, các quốc gia thành viên Liên Âu cũng được khuyến nghị áp dụng các biện pháp lập pháp nhằm chống trốn thuế, chẳng hạn như khấu trừ thuế tại nguồn hoặc áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với các giao dịch tài chính với những nước trong danh sách, trong đó có Việt Nam. Tóm lại, việc bị đưa vào danh sách này đồng nghĩa với việc phải đối mặt với một loạt biện pháp trừng phạt kinh tế do các quốc gia thuộc Liên Hiệp Châu Âu áp đặt. RFI : Giữa Liên Hiệp Châu Âu và Việt Nam có Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA), có hiệu lực từ ngày 01/08/2020 và hiệp định bảo hộ đầu tư vẫn đang chờ được các nước Liên Âu phê chuẩn. Việc nằm trong “danh sách đen” sẽ tác động như thế nào đến các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, tại Việt Nam ? Sébastien Laffitte : Đây là một câu hỏi quan trọng. Mục đích của các biện pháp này là khiến các thực thể đến từ Liên Hiệp Châu Âu - đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam - phải tuân thủ những quy định bổ sung, từ đó làm gia tăng chi phí khi đầu tư vào Việt Nam. Đó cũng chính là mục tiêu mà Liên Hiệp Châu Âu hướng tới. Thông qua “danh sách đen”, cùng với hiệu ứng “chỉ đích danh và lên án” (name and shame), Liên Âu gây sức ép để buộc các quốc gia bị xem là có chính sách thuế thiếu hợp tác hoặc cạnh tranh thuế quá mức phải điều chỉnh chính sách của họ để xóa bỏ hình ảnh tiêu cực này. Đồng thời, các biện pháp trừng phạt cũng nhắm tới các cá nhân và doanh nghiệp hoạt động tại những quốc gia đó nhằm hạn chế các hành vi cạnh tranh thuế gay gắt. Đọc thêmLuật sư Pháp và châu Âu tư vấn cho Việt Nam về EVFTA Tuy nhiên, Việt Nam là một nền kinh tế đang phát triển và không bị đưa vào danh sách vì các hành vi trốn thuế bất chính, mà chủ yếu do những vấn đề liên quan đến việc trao đổi thông tin thuế. Vì vậy, theo quan điểm của tôi, nhiều khả năng Việt Nam sẽ nhanh chóng khắc phục tình hình. Đây cũng là điều mà các đại diện của Việt Nam đã khẳng định trong các thông cáo báo chí được đưa ra sau thông báo của Liên Hiệp Châu Âu. Trong bối cảnh đó, những tác động tiêu cực có thể sẽ được hạn chế. Theo tôi, quan hệ kinh tế với Việt Nam nhiều khả năng sẽ không bị ảnh hưởng đáng kể, đặc biệt vì Việt Nam có vị thế kinh tế và cơ cấu rất khác so với phần lớn các nước còn lại trong danh sách - ngoại trừ Nga - vốn chủ yếu là những quốc đảo nhỏ ở khu vực Thái Bình Dương hoặc Caribê. Cuối cùng, theo quan điểm của tôi, “danh sách đen” của Liên Hiệp Châu Âu về các “thiên đường thuế” nên tập trung nhiều hơn vào những tiêu chí cụ thể liên quan đến nguy cơ trốn thuế và cạnh tranh thuế gay gắt, như tôi đã đề xuất trong các nghiên cứu của mình. RFI : Như ông vừa đề cập, một trong những tác động đầu tiên của các biện pháp trừng phạt là làm gia tăng chi phí đầu tư. Cụ thể, điều này có nghĩa là gì ? Sébastien Laffitte : Nói một cách đơn giản, khi một nhà đầu tư nước ngoài - chẳng hạn từ Pháp - đầu tư vào Việt Nam, giữa hai bên sẽ phát sinh nhiều giao dịch tài chính và kinh doanh. Khi một quốc gia bị đưa vào “danh sách đen”, các biện pháp trừng phạt có thể được áp dụng đối với những giao dịch này. Chẳng hạn, các cơ quan thuế có thể áp dụng các khoản thuế bổ sung đối với những giao dịch giữa chi nhánh hoặc công ty con của doanh nghiệp tại Việt Nam và công ty mẹ tại Pháp. Những biện pháp mang tính chất trừng phạt thuế như vậy sẽ làm gia tăng chi phí liên quan đến các hoạt động đầu tư và kinh doanh vào Việt Nam. Do đó, về tổng thể, việc một quốc gia nằm trong “danh sách đen” có thể khiến chi phí đầu tư vào quốc gia đó tăng lên. Đọc thêmViệt Nam và Liên Hiệp Châu Âu nâng quan hệ ngoại giao lên mức cao nhất RFI : Vậy Việt Nam nên làm thế nào để thoát khỏi danh sách này ? Sébastien Laffitte : Như tôi đã đề cập, danh sách này thực chất là một công cụ ngoại giao kinh tế của Bruxelles. Trên thực tế, Liên Hiệp Châu Âu luôn duy trì liên lạc với các quốc gia liên quan, cả trước khi họ bị đưa vào “danh sách đen”, trong thời gian họ nằm trong danh sách, cũng như trong quá trình xem xét việc đưa họ ra khỏi danh sách. Vì vậy, chắc chắn tồn tại các kênh trao đổi giữa chính quyền châu Âu và Việt Nam. Thông qua các cuộc đối thoại này, các quan chức Liên Hiệp Châu Âu có thể giải thích cho phía Việt Nam những tiêu chí và điều kiện cần thiết để được gỡ tên khỏi danh sách. Để được xóa khỏi “danh sách đen”, Việt Nam cần cải thiện chất lượng của cơ chế trao đổi thông tin thuế theo yêu cầu từ các quốc gia khác. Như đã nói, chính những hạn chế trong lĩnh vực này là lý do chủ yếu khiến Việt Nam bị đưa vào danh sách. Vì vậy, nếu Việt Nam tăng cường các biện pháp bảo đảm tính bảo mật của thông tin, đồng thời cải thiện chất lượng và tốc độ chia sẻ dữ liệu thuế, Việt Nam sẽ đáp ứng tốt hơn các tiêu chí đánh giá và từ đó có khả năng được đưa ra khỏi “danh sách đen”. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm nhà nghiên cứu-giảng viên Sébastien Lafitte, Đại học Cergy Paris, thành viên của Tổ chức Quan sát thuế Châu Âu (EU Tax Observatory). | — | ||||||
| 3/23/26 | ![]() Chiến tranh Trung Đông làm xáo trộn du lịch Việt Nam | Như mọi năm, Hội chợ Du lịch Thế giới vừa diễn ra tại Paris từ 12/03 đến ngày 15/03/2026, đúng vào lúc chiến tranh giữa Mỹ, Israel với Iran vẫn còn rất ác liệt, không biết bao giờ mới kết thúc. Chiến sự Trung Đông đang gây xáo trộn cho du lịch thế giới nói chung và du lịch Việt Nam nói riêng. Bình thường Hội chợ thu hút rất đông đảo khách, đa số là người dân vùng Paris, đến đây để tìm hiểu thông tin cho các chuyến du lịch sắp tới, nhất là cho mùa hè. Tại Hội chợ Du lịch 2026, châu Á chiếm một khu rất lớn, quy tụ những quốc gia vốn là các điểm đến ưa thích của khách Pháp: Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan và nhất là Việt Nam. Năm nay tại Hội chợ có hai công ty Việt Nam đến quảng bá cho du lịch Việt Nam đó là Qasia Travel và Vietnam Original Travel, cả hai đều chuyên tổ chức các tour du lịch cho khách từ những nước sử dụng Pháp ngữ, nhất là Pháp. Du lịch Việt Nam có thể nói là đang trên đà khởi sắc trở lại và năm ngoái đã thu hút một lượng du khách quốc tế kỷ lục, lên tới hơn 21 triệu người. Năm nay, trên nguyên tắc du lịch Việt Nam có thể vượt qua kỷ lục đó, vì chỉ trong hai tháng đầu năm 2026 đã có gần 4,7 triệu du khách đến Việt Nam, tăng khoảng 18% so với cùng kỳ năm ngoái. Trả lời RFI Việt ngữ tại Hội chợ, anh Thân Mạnh Đức, chủ tịch và cũng là người sáng lập công ty Vietnam Original Travel, cho biết khách quốc tế, nhất là khách Pháp, đến Việt Nam ngày càng nhiều, một phần cũng chính là nhờ sự quảng bá tích cực của các công ty tư nhân: “Việt Nam làm truyền thông tương đối tốt, nhưng không phải là Tổng cục Du lịch làm truyền thông, thực tế là trong các hội chợ du lịch thì không thấy nhà nước tham gia. Tham gia hội chợ như ở Anh và ở Đức, hầu như các công ty tư nhân làm truyền thông tương đối là mạnh. Thế nên là du lịch Việt Nam rất phát triển, lượng khách quan tâm nhiều và thực tế là số khách đi du lịch Việt Nam tăng rất nhiều những năm vừa qua. Ngoài việc làm truyền thông tốt, Việt Nam cũng là một điểm đến rất an toàn, đẹp và cũng không đắt. Đấy là những lý do mà khách đến Việt Nam ngày càng nhiều. Riêng đối với khách Pháp thì những điều gì thu hút họ đến Việt Nam nhất? Khách Pháp thì quan tâm nhiều đến lịch sử văn hóa và con người, bởi vì Việt Nam là một nước mà họ đã từng đô hộ và có rất nhiều những vết tích mà họ để lại. Hơn nữa khi đến Việt Nam họ rất thích phong cảnh, con người và văn hóa Việt Nam.” Theo một nghiên cứu của Protourisme, trước chiến tranh Trung Đông, 62% người dân Pháp dự định đi nghỉ trong năm nay, với ngân sách trung bình là 2.500 euro mỗi hộ gia đình. Đối với mùa hè, 46% người Pháp (31,6 triệu người) cho biết họ muốn đi du lịch, giảm nhẹ so với năm 2025. Tuy nhiên, tỷ lệ các chuyến đi nước ngoài đang tăng lên thành 35%, so với 32% năm ngoái. Nhưng rất không may là chiến tranh Trung Đông đã bùng phát bất ngờ, ảnh hưởng khá nặng nề đến du lịch thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, nhất là vì rất nhiều khách châu Âu đến Việt Nam bằng các chuyến bay quá cảnh qua Doha hay Dubai. Kể từ khi chiến tranh Iran bùng phát ngày 28/02, rất nhiều khách đã đặt vé đi Việt Nam với các hãng như Qatar Airways hay Emirates, tức là quá cảnh qua Doha và Dubai, đã bị hủy vé, tuy được trả lại toàn bộ tiền vé nhưng bỏ lỡ kế hoạch du lịch hoặc thăm gia đình ở Việt Nam. Nhưng đáng nói hơn cả là tình trạng của những du khách đang ở Việt Nam lúc chiến tranh nổ ra và bị kẹt ở Việt Nam trong nhiều ngày, do không tìm được vé để trở về, hay nói đúng hơn là không đủ tiền để mua những vé máy bay giá cao ngất ngưỡng, có khi lên tới 9.000, 1.0000 euro. Anh Thân Đức Mạch, chủ tịch công ty Vietnam Original Travel ghi nhận: “Thực tế là ảnh hưởng rất nhiều, bởi vì phần lớn khách đi qua Doha và Dubai tương đối nhiều do thứ nhất là giá vé rẻ. Bây giờ, khi hai sân bay đó bị đóng lại, các chuyến bay bị hủy tương đối nhiều và khách của em cũng hủy nhiều. Sau khi sau khi chiến tranh xảy ra thì chỉ còn lại một số chuyến bay sang Pháp,như là của China Airlines, China Southern Airlines, Vietnam Airlines. Emirates có một số chuyến, nhưng giá vé rất đắt và số lượng chỗ cũng hạn thế, nên lượng khách cũng giảm tương đối nhiều. Đối với những khách đã đi du lịch tới Việt Nam và hiện nay kẹt ở Việt Nam, cách giải quyết là như thế nào? Hãng hàng không đưa ra giải pháp, một là sẽ extension ( kéo dài ) kỳ nghỉ của khách để chờ xem liệu chiến tranh có dừng lại hoặc là các chuyến bay có thể mở lại được hay không. Giải pháp thứ hai là doanh nghiệp có thể tự tìm chuyến bay cho khách và họ sẽ hỗ trợ một phần. Thế nhưng bây giờ tìm cũng không có chuyến bay và mà có thì phải mua vé hạng thương gia giá rất là cao. Cho nên khách vẫn phải chờ và ở lại Việt Nam thêm một thời gian. Một khó khăn nữa là, khi khách phải kéo dài kỳ nghỉ của họ ở Việt Nam, hãng hàng không chỉ hỗ trợ ba đêm đầu tiên thôi, còn sau đó khách phải tự trả, cho nên khách cũng không hài lòng. Bên em có liên lạc với hãng hàng không mà họ đã đặt vé, thì hãng hàng không cũng đưa giải pháp giống như vậy thôi, tức là gợi ý khách sẽ ở lại để chờ xem tình trạng các chuyến bay có thực hiện được hay không. Thứ hai là người ta sẽ chờ những chuyến bay gọi là “giải cứu” về nước họ ( rapatriement ). Nhưng thực ra cũng vẫn đang chờ thôi, chứ chưa thực hiện được chuyện đó. Tiếp theo là bên em sẽ phải hỗ trợ cho khách tìm chuyến bay của các hãng khác, nếu có. Trong trường hợp đấy thì hãng hàng không sẽ hỗ trợ một phần và khách sẽ phải trả một phần. Nhưng với giá vé hiện nay đôi khi lên tới 8 ngàn, 9 ngàn euro làm sao mà có thể mua được những vé đó? Vâng, chính vì thế mà khách cũng không chịu, nên bọn em vẫn đang chờ chuyến bay giải cứu và hy vọng chiến tranh sẽ dừng lại, các chuyến bay có thể thực hiện được như bình thường. Khách luôn tìm giải pháp để đi làm sao cho tiết kiệm nhất có thể, mà những chuyến bay có transit ( quá cảnh ) thì rẻ hơn những chuyến bay trực tiếp. Bây giờ nhu cầu của khách đi du lịch cũng nhiều, cho nên nếu chỉ có một vài hãng như Vietnam Airlines, hoặc là Southern China Airlines thì cũng không đáp ứng đủ, thế nên giá vé rất cao. Chiến tranh mà kết thúc và các sân bay mở lại thì em nghĩ là các chuyến bay sẽ trở lại bình thường thôi. Chiến tranh sẽ tác động tiêu cực đến du lịch cũng như một số lĩnh vực khác. Giá vé máy bay là một phần. Giá xăng dầu tăng thì dẫn đến giá vận chuyển tăng, các nhà hàng, khách sạn cũng tăng, mọi thứ sẽ tăng. Em nghĩ là du lịch sẽ rất khó khăn. Năm ngoái, số khách tăng đột biến và những dòng khách như từ Ấn Độ và nhất từ Ý đến Việt Nam tương đối đông. Thế nhưng khách Ý bay qua Qatar tương đối nhiều, bởi vì Vietnam Airlines không có chuyến bay hàng ngày, mà một tuần chỉ có ba chuyến. Vì chỉ có ba chuyến cho nên nhiều khi không đúng với ngày mà họ muốn đi. Thế nên chuyến bay thì vẫn trống, nhưng lúc khách cần thì cũng không có. Chính vì vậy bây giờ lượng khách cũng giảm rất nhiều sau khi chiến tranh nổ ra. Kể cả khách từ Ấn Độ. Còn dòng khách Pháp của bên em thì cũng bị ảnh hưởng khoảng 50% hoặc 30%, bởi vì họ cũng bay qua các nước thứ ba rất nhiều để tiết kiệm chi phí.” Ảnh hưởng của chiến tranh Trung Đông đã được thể hiện rõ qua thái độ của khách đến Hội chợ Du lịch Paris năm nay. Ai cũng đến chủ yếu để hỏi thông tin, chứ không đặt chỗ cho những chuyến đi trong năm nay, theo lời anh Thân Đức Mạnh, vốn đã tham gia Hội chợ này từ năm 2008 đến nay: “Năm nay so với năm trước thì cũng tương đối là đông, thế nhưng họ đến gần như là chỉ tham khảo và lấy thông tin thôi. Hoặc là người ta hỏi cho những chuyến đi rất xa, chứ không như những năm trước. Những năm trước, thậm chí bọn em có thể bán tour ngay tại chỗ và có rất nhiều khách quan tâm thật sự cho những chuyến đi rất gần và người ta quan tâm nhiều thông tin lắm. Còn bây giờ người ta đến chỉ hỏi thông tin qua loa vậy thôi. Em nghĩ là họ còn phải chờ xem các chuyến bay như thế nào, bởi vì sau khi chiến tranh xảy ra thì giá vé rất đắt và chiến tranh thì không biết đến bao giờ có thể kết thúc. Tức là họ không hoàn toàn chắc chắn từ đây đến cuối năm. Còn chất lượng của mỗi cuộc trao đổi cũng không thật sự như những năm trước em đã từng tham gia.” Nói chung, theo lời chủ tịch Vietnam Original Travel, tại Hội chợ Du lịch Paris năm nay, nếu khách có đặt tour thì thường là họ dự kiến cho tháng 4, tháng 5 hoặc tháng 6 của năm 2027! Theo báo chí Việt Nam, trong bối cảnh một số hãng hàng không Trung Đông tạm dừng khai thác, Vietnam Airlines đã điều chỉnh một số đường bay đến châu Âu, bổ sung khoảng 30 chuyến bay nhằm giải tỏa lượng hành khách đang bị tồn đọng tại Việt Nam và chiều ngược lại. Nhưng các hãng hàng không đang lo ngại sẽ rơi vào tình cảnh “càng bay càng lỗ”, nếu giá xăng dầu tiếp tục tăng do xung đột leo thang tại Trung Đông. Các hãng cung cấp xăng dầu cũng gặp khó khăn về việc đảm bảo duy trì cung ứng nhiên liệu cho hoạt động vận tải hàng không tại Việt Nam. Việc tăng giá dầu diesel cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động của các cảng hàng không. Trong một văn bản đề ngày 09/03/2026 gởi bộ Giao Thông Vận Tải, Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam (CAAV) đã chính thức cảnh báo về nguy cơ thiếu nhiên liệu kể từ đầu tháng 4 và kéo dài sang các tháng tiếp theo. Trước tình hình này, cơ quan quản lý đã yêu cầu các hãng hàng không trong nước như Vietnam Airlines, Vietjet và Bamboo Airways cắt giảm số chuyến bay của các tuyến nội địa và ưu tiên cho các tuyến quốc tế “chiến lược”. Cuộc khủng hoảng này cho thấy tính chất dễ bị tổn thương của ngành vận tải hàng không Việt Nam trước sự bất ổn địa chính trị toàn cầu và có thể dẫn đến việc tăng giá vé đáng kể hoặc hủy chuyến hàng loạt trong những tuần tới. | — | ||||||
| 3/16/26 | ![]() Chiến tranh Trung Đông tác động đến hấp lực xuất khẩu và tăng trưởng của Việt Nam | Xăng dầu tăng giá là hệ quả rõ nhất có thể thấy ở Việt Nam do chiến tranh Trung Đông. Tình hình xung đột kéo dài và nguy cơ gián đoạn tại eo biển Hormuz đặt Việt Nam trước nhiều thách thức kinh tế và thương mại. Chi phí sản xuất và vận tải đội giá, ảnh hưởng trực tiếp đến các ngành công nghiệp quan trọng. Chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn, nguyên liệu nhập khẩu trở nên khan hiếm. Những biến động này làm giảm tính cạnh tranh của hàng Việt tại các thị trường trọng điểm như Liên Hiệp Châu Âu, Hoa Kỳ. Nền kinh tế toàn cầu xấu đi cũng không phải là dấu hiệu tốt cho Việt Nam vì một phần lớn tăng trưởng dựa vào xuất khẩu. Chi phí gia tăng còn có nguy cơ đẩy lạm phát lên cao. Tất cả những thách này đòi hỏi Việt Nam cần có những giải pháp ứng phó nhanh và hiệu quả. Trên đây là một số nhận định của nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên tại Đại học Công giáo Lyon (UCLy) chuyên ngành khoa học chính trị, thành viên của Viện Đông Á tại Trường Sư phạm Lyon (ENS de Lyon), khi trả lời phỏng vấn RFI Tiếng Việt ngày 12/03/2026. RFI : Cuộc chiến bùng nổ ở Trung Đông đang gây ra những ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực và hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Trung Đông có vai trò như thế nào trong quan hệ kinh tế và thương mại của Việt Nam hiện nay ? Laurent Gédéon : Kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và Trung Đông còn khá hạn chế, với xuất khẩu sang khu vực này chiếm chưa đến 3% tổng kim ngạch. So với Mỹ, Trung Quốc hay Liên Hiệp Châu Âu thì Trung Đông vẫn là thị trường nhỏ hơn, nhưng vẫn được xem là một thị trường chiến lược tiềm năng đối với Việt Nam vì một số lý do. Thứ nhất, về xuất khẩu, Trung Đông là thị trường tiêu thụ nhiều hàng hóa của Việt Nam như điện thoại, linh kiện điện tử, dệt may và đồ nội thất. Khu vực này cũng nhập khẩu nhiều nông sản và thủy sản của Việt Nam do phụ thuộc vào nguồn thực phẩm bên ngoài. Do đó, gạo, cà phê, tiêu, hạt điều, cũng như tôm và các loại hải sản khác của Việt Nam cũng tìm được thị trường đầy triển vọng. Ngoài ra, thị trường thực phẩm “halal”, ít được biết đến nhưng đang phát triển mạnh và có thể đạt 5.000 tỷ đô la vào năm 2030, trở thành lĩnh vực chiến lược mà Việt Nam hướng tới để đáp ứng nhu cầu của các nước Hồi Giáo. Về nhập khẩu, Việt Nam chủ yếu nhập năng lượng từ Trung Đông, đặc biệt là dầu mỏ, sản phẩm từ dầu, khí tự nhiên hóa lỏng và nguyên liệu hóa học. Ngoài ra còn có kim loại và nguyên liệu thô phục vụ công nghiệp. Những nguồn này rất quan trọng đối với ngành công nghiệp và hệ thống năng lượng của Việt Nam. Về mặt này, Trung Đông đóng vai trò then chốt đối với Việt Nam với tư cách là nhà cung cấp năng lượng và công nghiệp. Đọc thêmMối quan hệ truyền thống khiến Việt Nam khó xử trong xung đột Israel-Hamas Đối với các nước vùng Vịnh, Việt Nam đã triển khai chiến lược đầu tư từ nhiều năm qua thông qua các hiệp định thương mại song phương. Tiêu biểu là Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) ký ngày 28/10/2024 tại Dubai với Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống, nhằm xóa bỏ hầu hết thuế quan, thúc đẩy đầu tư và tăng cường thương mại song phương. Nhìn chung, có thể nói rằng Trung Đông là đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam đa dạng hóa thương mại và nguồn năng lượng, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn như Trung Quốc và Hoa Kỳ. RFI : Căng thẳng hoặc xung đột ở Trung Đông có thể ảnh hưởng đến mức độ nào đối với một số thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam, như Liên Hiệp Châu Âu hoặc Hoa Kỳ, cũng như các nước vùng Vịnh và Israel ? Laurent Gédéon : Xung đột ở Trung Đông có khả năng tác động đến thị trường xuất khẩu của Việt Nam theo nhiều cách. Thứ nhất, xung đột ở Trung Đông có thể làm giá năng lượng tăng cao vì đây là một trong những khu vực sản xuất dầu khí hàng đầu thế giới. Nếu xung đột kéo dài, sản xuất và vận chuyển hydrocarbon sẽ bị ảnh hưởng. Giá dầu khí tăng khiến chi phí vận tải biển và hàng không tăng, kéo theo chi phí sản xuất tại Việt Nam cao hơn, đặc biệt trong các ngành công nghiệp, dệt may, điện tử và vận tải. Khi giá sản phẩm tăng, hàng Việt Nam sẽ kém cạnh tranh hơn tại các thị trường trọng điểm, cụ thể là Liên Hiệp Châu Âu và Mỹ - hai thị trường xuất khẩu chính (chiếm gần 40%) đối với hàng chế tạo của Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam hợp tác dầu khí với Ả Rập Xê Út Yếu tố thứ hai là nhiều tuyến thương mại chiến lược sẽ bị gián đoạn nếu xung đột dẫn đến bất ổn kéo dài ở hai khu vực hàng hải nhạy cảm là Vịnh Ba Tư và phía bắc Ấn Độ Dương, cùng với việc eo biển Hormuz bị đóng một phần hoặc toàn bộ. Tình hình thậm chí có thể nghiêm trọng hơn nếu lực lượng Houthi ở Yemen cũng tham gia vào cuộc xung đột và siết chặt phong tỏa ở eo biển Bab-el-Mandeb để giảm bớt áp lực cho Iran. Cho dù hiện nay lực lượng Houthi giữ thái độ thận trọng nhưng vẫn không thể loại trừ một kịch bản như vậy, bởi vì thủ lĩnh Abdul-Malik al-Houthi đã tuyên bố trên truyền hình ngày 05/03 rằng lực lượng Houthi sẵn sàng tấn công bất cứ lúc nào. Trong bối cảnh bất ổn như vậy, tàu thuyền sẽ phải tránh các vùng biển nguy hiểm, điều này sẽ làm tăng thời gian vận chuyển và chi phí logistic. Trong trường hợp đó, Việt Nam sẽ gặp khó khăn, vì chuỗi giá trị xuất khẩu của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào các tuyến hàng hải nối các trung tâm sản xuất châu Á với các thị trường lớn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bất kỳ sự gián đoạn nào đối với các tuyến đường này đều có thể dẫn đến việc tăng chi phí và chậm trễ giao hàng. Cuối cùng, yếu tố thứ ba liên quan đến kinh tế toàn cầu. Căng thẳng ở Trung Đông có thể gây bất ổn kinh tế chung, đặc biệt là việc nhà đầu tư rút vốn và các nước phân bổ lại ngân sách tập trung cho quốc phòng. Điều này có thể làm suy yếu kinh tế của các đối tác thương mại của Việt Nam, đặc biệt ở Trung Đông, từ đó giảm nhu cầu nhập khẩu. Nếu xung đột kéo dài hoặc leo thang, tác động tương tự cũng có thể lan sang châu Âu và Mỹ, hai thị trường xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Đọc thêmPetroVietnam sẽ đầu tư 1,2 tỷ đô la vào một mỏ dầu tại Iran Do đó, xung đột giữa Iran với Hoa Kỳ và Israel có thể gián tiếp ảnh hưởng đến kinh tế Việt Nam. Mặc dù Trung Đông không phải đối tác thương mại chính nhưng căng thẳng khu vực vẫn có thể gây ra hậu quả đáng kể cho các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam. Nếu gián đoạn kéo dài, hàng hóa Việt Nam có nguy cơ kém cạnh tranh về giá so với các nước gần châu Âu và Bắc Mỹ hơn và sử dụng các tuyến vận tải ngắn hơn hoặc ít rủi ro hơn. RFI : Ngành công nghệ của Việt Nam đang phát triển. Tại sao lĩnh vực này cũng có thể bị tác động với những diễn biến địa-chính trị ở Trung Đông ? Laurent Gédéon : Nhìn chung ngành công nghiệp công nghệ của Việt Nam, bao gồm điện tử, bán dẫn và lắp ráp, phụ thuộc lớn vào năng lượng và nguyên liệu thô. Căng thẳng tại các quốc gia sản xuất hydrocarbon như Ả Rập Xê Út, Qatar hay Các Tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất có thể làm giá dầu và khí đốt tăng lên, kéo theo chi phí sản xuất và vận tải quốc tế tăng, như đã nói ở trên. Trong khi đó hoạt động công nghiệp của Việt Nam cần nguồn năng lượng lớn, giá năng lượng tăng sẽ tác động đến sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu công nghệ Việt Nam. Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi sản xuất công nghệ toàn cầu nhờ sự hiện diện của các tập đoàn lớn như Samsung, Intel, Foxconn và Apple. Với vai trò nhà xuất khẩu sản phẩm hoàn chỉnh, bất kỳ gián đoạn nào trong chuỗi logistic hoặc tăng chi phí vận chuyển đến các thị trường xuất khẩu đều sẽ gây thiệt hại đáng kể cho Việt Nam. Trường hợp Israel đặc biệt quan trọng, cần được nhắc lại, bởi vì Việt Nam hợp tác sâu rộng với Nhà nước Do Thái trong trí tuệ nhân tạo AI và công nghệ nông nghiệp (agritech). Agritech là lĩnh vực ứng dụng kỹ thuật số và robot nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả nông nghiệp. Căng thẳng kéo dài có thể làm chậm các dự án hợp tác và giảm đầu tư. Trong bối cảnh Israel là một trung tâm công nghệ quan trọng, việc căng thẳng khu vực kéo dài hoặc leo thang có thể làm chậm các dự án hợp tác công nghệ song phương và dẫn đến sự sụt giảm đầu tư trong lĩnh vực này. Tương tự, Việt Nam cũng có thể phải đối mặt thách thức này với các nước vùng Vịnh, vốn đang thúc đẩy đa dạng hóa kinh tế tập trung vào mở rộng công nghệ cao và đổi mới sáng tạo từ nhiều năm gần đây. Đọc thêmIsrael bán hai vệ tinh do thám cho cơ quan tình báo quân sự Việt Nam Ngoài khu vực Trung Đông, khủng hoảng có thể sẽ gây lạm phát toàn cầu và suy giảm kinh tế ở châu Âu và Mỹ. Và như vậy có thể sẽ làm dao động hoặc giảm nhu cầu sản phẩm điện tử. Đây sẽ là một thách thức lớn cho ngành công nghệ Việt Nam. RFI : Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất 10% vào năm 2026. Áp lực thuế quan của Mỹ đã thúc đẩy Việt Nam tìm cách đa dạng hóa đối tác thương mại. Xung đột ở Trung Đông có thể tác động như thế nào đến mục tiêu này ? Laurent Gédéon : Cuộc xung đột sẽ tác động mạnh đến nguồn năng lượng. Ngày 10/03, Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA) điều chỉnh dự báo giá dầu Brent 2026 lên 79 đô la/thùng (so với 58 đô la vào tháng 02/2026) và tăng 36% kể từ đầu năm. Giá năng lượng tăng sẽ ảnh hưởng đến xăng, dầu hỏa, phân bón, hóa dầu, nhựa và như vậy sẽ tác động trực tiếp đến vận tải, công nghiệp, luyện kim, bán lẻ và thực phẩm. Nếu xu hướng này tiếp diễn, lạm phát ở Việt Nam, hiện là 2,5%, có thể tăng gấp đôi trong những tháng tới. Giá dầu tăng cũng sẽ đè nặng lên tăng trưởng GDP, ngay cả khi Việt Nam là nước sản xuất dầu khí bởi vì Việt Nam cũng phải nhập dầu khí. Hiện giờ rất khó đưa ra các dự đoán chính xác. Nếu eo biển Hormuz bị đóng cửa hoàn toàn và kéo dài, có nghĩa là Iran rải thủy lôi và bắn vào tàu thuyền tìm cách đi qua, thì giá dầu có thể ở mức hơn 100 đô la/thùng. Một trong những tác động đối với Việt Nam, như đã đề cập, là lạm phát có thể vượt 5%, và xuất khẩu giảm, cho nên có khả năng GDP bị giảm thêm 1%. Tình hình này đòi hỏi chính quyền Việt Nam theo dõi sát sao để dự báo tác động và triển khai các biện pháp ứng phó hiệu quả. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, Đại học Công giáo Lyon. | — | ||||||
| 3/9/26 | ![]() Việt Nam phối hợp với các nước Đông Nam Á triệt hạ những đường dây lừa đảo xuyên quốc gia | Báo động trước tình trạng ngược đãi những người lao động bị cưỡng bức, trong đó có không ít nạn nhân là người Việt Nam, tại các trung tâm lừa đảo trực tuyến ở các nước Đông Nam Á, Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc ngày 20/02/2026 đã kêu gọi cộng đồng quốc tế hành động chống lại tệ nạn này. Riêng Việt Nam đang phối hợp với Cam Bốt và những đối tác khác ở Đông Nam Á để triệt hạ các đường dây lừa đảo xuyên quốc gia. Trong một báo cáo được công bố vào năm 2023, Liên Hiệp Quốc ước tính hàng trăm ngàn người đã bị cưỡng bức tuyển dụng để thực hiện các vụ lừa đảo trực tuyến. Báo cáo mới, dựa trên lời khai của các nạn nhân và các cuộc phỏng vấn với các cảnh sát và đại diện của xã hội dân sự, mô tả các vi phạm nhân quyền nghiêm trọng mà những người bị buộc phải làm việc trong các trung tâm này phải gánh chịu. Báo cáo ghi nhận các trường hợp tra tấn, ngược đãi, bóc lột, lạm dụng tình dục, cưỡng bức phá thai, bỏ đói và biệt giam. Một nạn nhân từ Sri Lanka khai rằng những người không đạt chỉ tiêu hàng tháng về lừa đảo đã bị dìm xuống nước hàng giờ trong các bể nước (gọi là 'nhà tù nước'). Các nạn nhân cũng kể lại việc bị ép buộc chứng kiến, thậm chí tham gia vào những hành vi vi phạm nhân quyền nghiêm trọng này. Một nạn nhân người Bangladesh cho biết anh ta được lệnh đánh đập những người lao động cưỡng bức khác, và một nạn nhân người Ghana mô tả việc bị ép buộc phải chứng kiến bạn mình bị đánh đập. Một nạn nhân người Việt Nam kể lại việc em gái mình bị đánh đập, bị chích điện, bị nhốt trong phòng và bị bỏ đói trong bảy ngày vì đã toan đào thoát. Liên Hiệp Quốc lên án tình trạng những nạn nhân này bị xác định sai là tội phạm và bị truy tố hình sự, hoặc bị trừng phạt thay vì được bảo vệ. Từ nhiều năm qua, Cam Bốt đã trở thành “thiên đường” cho các tổ chức tội phạm điều hành ngành công nghiệp lừa đảo trị giá hàng tỷ đô la. Một báo cáo năm 2024 của Viện Hòa bình Hoa Kỳ ước tính doanh thu từ các vụ lừa đảo mạng ở Cam Bốt vượt quá 12,5 tỷ đô la mỗi năm, tương đương một nửa tổng sản phẩm nội địa (GDP) của nước này. Viện tư vấn Stimson Center, trụ sở chính tại thủ đô Washington của Mỹ, có một dự án về chống lừa đảo trên mạng, tập hợp các nhà khoa học cũng như các nhà hoạch định chính sách và cả đại diện các tập đoàn công nghệ như Google hoặc Meta. Sau ba năm thực hiện, vừa rồi họ đã tổ chức hội thảo tại Bangkok để tổng kết và đánh giá về những chiến dịch triệt hạ các trung tâm lừa đảo ở Cam Bốt. Tham gia dự án này có tiến sĩ Lương Thanh Hải, một nhà tội phạm học, hiện là giảng viên Trường Tư pháp hình sự và tội phạm học Griffith, Úc. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 05/03/2026, ông Lương Thanh Hải cho biết: "Hơn nửa năm trở lại đây, từ giữa năm 2025 cho đến đầu năm 2026, dưới áp lực mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế, từ Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á, chính quyền Cam Bốt đã mở một chiến dịch quy mô rất lớn nhằm triệt phá các khu phức hợp lừa đảo trực tuyến ( scams compound ). Tất nhiên để đánh giá một kết quả tổng thể đòi hỏi những số liệu cụ thể và hiện nay thì chúng tôi vẫn đang cập nhật để có số liệu cụ thể chính xác. Nhưng sơ bộ thì trong vòng nửa năm trở lại đây, chính quyền Cam Bốt đã đánh sập được gần 200 trung tâm lừa đảo. Có thể nói là đây là một con số khá ấn tượng. Trong cuộc tọa đàm vừa rồi, chúng tôi cũng đã tổng kết sơ bộ ít nhất có hơn 173 nhân vật cầm đầu đã bị bắt và khoảng trên dưới 11.000 người tham gia đã bị trục xuất khỏi Cam Bốt. Hàng ngàn người là nạn nhân bị ép lừa đảo đã thoát khỏi các trung tâm đó. Đầu tháng 2 vừa rồi, chúng tôi cũng ghi nhận, đặc biệt là sau khi quân đội Thái Lan tiến hành công kích và triệt phá các khu phức hợp, các sòng bài lớn ở Cam Bốt, người ta đã phát hiện các đối tượng sử dụng trang phục cảnh sát của ít nhất là 7 nước như Úc, Brazil, Việt Nam, Indonesia, Singapore v.v... Đây có thể nói là những bằng chứng rõ nhất cho thấy các ổ lừa đảo này hoạt động hết sức tinh vi, sử dụng các trang phục của lực lượng thực thi pháp luật nhằm tạo ra những kịch bản y như một cuộc thẩm vấn của cảnh sát liên bang Úc, hay của cảnh sát Việt Nam, cảnh sát Singapore..., để lừa đảo, thậm chí là đưa ra các kịch bản bắt bớ, khởi tố..., khiến các nạn nhân dễ bị đánh gục. Chính quyền Cam Bốt đầu năm vừa rồi đã đưa ra được một con số khá ấn tượng là đã giảm được khoảng 50% hoạt động lừa đảo trực tuyến sau các chiến dịch mạnh như vậy. Tất nhiên con số đó cũng cần phải được thẩm định. Ngoài ra một số trùm mạng lưới, đặc biệt là Trần Chí ( Chen Zhi ), một đối tượng cầm đầu đã bị chính quyền Hoa Kỳ phong tỏa các tài sản và dưới áp lực của Mỹ, Cam Bốt cuối cùng cũng đã triển khai các chiến dịch và bắt được trùm lừa đảo này. Đầu năm vừa rồi, Trần Chí bị dẫn độ theo yêu cầu của chính quyền Trung Quốc đưa về Trung Quốc xét xử. Giới nghiên cứu chúng tôi tiếp tục cập nhật và hy vọng chính phủ Trung Quốc sẽ công bố những thông tin minh bạch, cũng như các bản án cụ thể, để chúng tôi từ góc độ tội phạm học có thể phân tích sâu hơn tại sao và như thế nào mà một trùm lừa đảo như Trần Chí lại có thể đi sâu và điều hành cả một tập đoàn lớn như vậy ở Cam Bốt trong rất nhiều năm. Sau khi phá được nhiều chuyên án lớn như vậy, nhiều tổ chức quốc tế cho rằng các đường dây này chỉ tạm thời giải tán thôi và rồi sẽ lại di chuyển sang địa phận khác. Các hoạt động tuyển dụng lao động của những trung tâm lừa đảo vẫn tiếp tục trên mạng xã hội. Bởi vì xét đến cùng, công nghiệp lừa đảo này ở Cam Bốt vẫn có quy mô cực lớn, có thể kiếm siêu lợi nhuận hàng chục tỷ đồng mỗi năm. Nói cách khác, chiến dịch này đã gây xáo trộn lớn, nhưng chưa thực sự triệt tiêu được hệ sinh thái đối với loại tội phạm lừa đảo qua mạng này." Hơn nữa, không chỉ có người Trung Quốc hay người Cam Bốt, mà có cả người Việt Nam điều hành đường dây lừa đảo ở xứ Chùa Tháp. Theo báo chí Việt Nam, ngày 13/02, Công an Đồng Nai phối hợp Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Bộ Công an) đã tạm giữ Nguyễn Thị Vân, 30 tuổi, cùng 13 người khác để điều tra hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nguyễn Thị Vân được xác đinh là cầm đầu đường dây lừa đảo 2.500 tỷ đồng của hàng ngàn nạn nhân, hoạt động tại Cam Bốt. Các nhà điều tra cho biết đây là một trong những vụ án đầu tiên bắt giữ được chủ mưu là người Việt Nam, tự đầu tư cơ sở hạ tầng quy mô lớn và vận hành hệ thống lừa đảo tại nhiều địa điểm ở Cam Bốt. Ngày 25/02, đến lượt Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Tây Ninh ra thông báo tìm những ai là nạn nhân của Huỳnh Nguyễn Ngọc Huy trong vụ án lừa đảo qua mạng xã hội để mua bán người. Cụ thể, Huy dùng tài khoản Facebook "Huy Trần" đăng tin tuyển dụng giả giới thiệu các “việc nhẹ lương cao” để lừa gạt nạn nhân đưa sang Cam Bốt. Tại đây, các nạn nhân bị ép buộc làm việc, nếu muốn về nước phải trả tiền chuộc rất cao, hoặc bị bán tiếp sang các công ty lừa đảo khác. Nhà tội phạm học Lương Thanh Hải giải thích: "Qua nghiên cứu từ thực tiễn, cũng như về lý thuyết, chúng tôi gọi đó là sự trùng lặp, sự lặp lại giữa nạn nhân và thủ phạm. Chúng tôi hay dùng thuật ngữ offender - victim overlap. Họ là những nạn nhân đã bị dụ dỗ để sang làm, bị ép buộc, được đào tạo từng bước một, từng kịch bản một và thậm chí đóng các kịch bản lực lượng thực thi pháp luật của nước A, nước B, nước C để lừa ngược lại. Thậm chí khi bị nhốt vào các trung tâm lừa đảo này, họ bị ép buộc phải đạt được chỉ số KPI ( chỉ số đo lường và đánh giá hiệu quả hoạt động ), hàng ngày hàng giờ phải thực hiện bao nhiêu cuộc lừa đảo. Thành thử họ không còn lựa chọn nào khác, buộc phải làm ngày làm đêm, thậm chí phải lừa cả người thân trong gia đình, bạn bè của họ ở Việt Nam, lôi kéo sang để lại trở thành nạn nhân của các vụ lừa đảo qua mạng tiếp theo. Trong khoảng hai năm trở lại đây, công an Việt Nam cũng đã phối hợp khá chặt chẽ với các lực lượng thực thi pháp luật của khu vực Đông Nam Á, thông qua các kênh chính thống, ví dụ như ASEANAPOL, tức là Hiệp hội cảnh sát trưởng của các nước ASEAN, hoặc là thông qua các đối tác song phương giữa cảnh sát và bộ Nội Vụ của Vương Quốc Cam Bốt hoặc Thái Lan. Đã có nhiều cuộc giải cứu thành công, ví dụ mới đây công an tỉnh Tuyên Quang đã giải cứu và đưa được khoảng 74 nghi phạm từ Cam Bốt và Việt Nam trong một vụ lừa đảo lên đến hàng nghìn tỷ đồng. Hiện nay, Việt Nam được đánh giá là một những nước đầu tiên của khu vực Đông Nam Á đang hướng tới áp dụng nguyên tắc "không hình phạt" đối với nạn nhân, nếu như chứng minh được họ là nạn nhân của các vụ ép buộc lừa đảo trực tuyến. Điều này cũng đã được cụ thể hóa trong luật về phòng chống buôn bán người của Việt Nam được sửa đổi năm 2024 và có hiệu lực từ tháng 7/2025. Về góc độ chính sách và pháp luật, chúng tôi cho đấy là một trong những bước tiến rất đáng ghi nhận từ chính quyền Việt Nam." Một cơ sơ pháp lý khác để Việt Nam có thể tăng cường hợp tác với các nước để diệt trừ các trung tâm lừa đảo, theo ông Lương Thanh Hải, chính là Công ước Hà Nội: "Công ước Hà Nội, tức là Công ước của Liên Hiệp Quốc về phòng chống tội phạm mạng, đã được ký từ tháng 10/2025. Bản thân Việt Nam và Cam Bốt, cùng một số nước khác trong Đông Nam Á, có tham gia. Theo thống kê của chúng tôi, tổng số nước ký kết đã lên đến 73 hoặc là 75 nước. Đây là một bước tiến lớn về cơ sở pháp lý để tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng chống các tội phạm mạng, bao gồm cả lừa đảo trực tuyến như các trung tâm ở Cam Bốt. Tuy nhiên, phần lớn những người Việt được phát hiện tham gia, thậm chí trực tiếp đi sang và cầm đầu các nhóm đối tượng ở Cam Bốt trong các trung tâm lừa đảo trực tuyến không phải là những "big boss", không phải là trùm của những ông trùm. Phần lớn những ông trùm đó vẫn là "behind the scene", vẫn đang tiếp tục lẫn trốn. Như trường hợp của Trần Chí chẳng hạn, phải mất rất nhiều thời gian mới bị phá vỡ và bị bắt. Thành thử những người Việt này thì chúng tôi đánh giá chủ yếu là đứng đằng sau điều hành các trung tâm lừa đảo Cam Bốt. Công an Việt Nam cũng đang tiếp tục khởi tố theo các nhóm tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, hoặc tổ chức đưa người ra nước ngoài trái phép, tham gia trực tiếp vào các trung tâm lừa đảo đó. Các số liệu cũng như các bằng chứng cho thấy các đường dây này thường là dụ người Việt Nam bằng cái chiêu là "việc nhẹ lương cao", sau đó bán sang trung tâm lừa đảo. Các cơ quan công an Việt Nam trực tiếp cũng như phối hợp với lượng thực thi pháp luật các nước, trong đó Cam Bốt và Thái Lan, đã triệt phá các nhóm môi giới này trên các nền tảng xã hội, như Zalo hoặc Facebook và có nhiều trường hợp đã xử lý về tội mua bán người, hoặc tổ chức xuất cảnh trái phép. Chúng tôi cũng kỳ vọng Công ước Hà Nội, cũng như các cơ sở pháp lý khác trong khu vực ASEAN, đặc biệt là giữa các nước Việt Nam, Lào, Cam Bốt và thậm chí cả Thái Lan nữa, sẽ tăng cường hợp tác về thực thi pháp luật, trao đổi dữ liệu về tội phạm mạng, tiếp tục phối hợp giải cứu các nạn nhân và cũng có thể tiến hành dẫn độ, hoặc trao đổi các loại tài liệu liên quan đến điều tra, truy tố và xét xử trong quá trình triệt phá các băng nhóm từ nay cho đến cuối năm và trong thời gian tới." | — | ||||||
| 3/2/26 | ![]() Thương mại : Tách Mỹ hay rời Trung Quốc ? Việt Nam tìm cách cân bằng đôi bên | Năm 2025, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, đạt kỷ lục với 151,85 tỉ đô la (chiếm 32% tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam). Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất cho Việt Nam, đạt kim ngạch 183 tỉ đô la (chiếm gần 41% trong tổng trị giá nhập khẩu của Việt Nam) (1). Trị giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ tỉ lệ thuận với trị giá nhập khẩu từ Trung Quốc. Trước sức ép của Washington, Hà Nội phải thắt chặt kiểm soát để ngăn hàng Trung Quốc đội lốt Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ. Theo tổng kết của AP về thuế đối ứng của tổng thống Donald Trump năm 2025, Trung Quốc, từng là nguồn nhập khẩu lớn nhất của Mỹ, hiện giờ đứng thứ ba, sau Canada và Mêhicô. Tổng giá trị hàng hóa từ Trung Quốc nhập khẩu vào Mỹ giảm gần 25% trong ba quý đầu năm 2025. Không thể làm mất lòng Mỹ - thị trường chiếm đến 30% GDP của Việt Nam Ngay đầu nhiệm kỳ 2, tổng thống Trump siết chặt đầu tư và thương mại từ Trung Quốc, nhắm đến cả những nước bị coi là “sân sau” của Bắc Kinh, trong đó có Việt Nam. Kinh tế gia cấp cao Nguyễn Trinh của Natixis nhận định trong phóng sự “Vì sao Việt Nam phải ký hiệp định thương mại với Trump?” của Bloomberg ngày 11/07 : “Trong nhiệm kỳ 1.0 của Trump, Việt Nam nổi lên là bên hưởng lợi lớn nhất từ căng thẳng Mỹ - Trung. Việt Nam trở thành điểm đến thu hút các nhà đầu tư muốn tiếp cận thị trường Mỹ, nơi chênh lệch thuế quan giữa Trung Quốc và Việt Nam ngày càng lớn hơn (...) Chính sách thời Trump 2.0 rất khác ở chỗ thay vì chỉ nhắm vào Trung Quốc, điều mà Việt Nam đã được hưởng lợi, giờ đây chúng ta lại thấy thuế quan áp dụng trực tiếp đối với cả Việt Nam”. Đọc thêmBị Mỹ đánh thuế 46% : Việt Nam trả giá vì làm “sân sau” cho Trung Quốc ? Chính phủ Việt Nam bị sốc vì không nghĩ đến mức thuế lên tới 46% được tổng thống Trump công bố trong “Ngày giải phóng” 02/04/2025 cho dù đã dự đoán một số mức thuế theo xu hướng chung. Mức thuế đối ứng 46% sẽ khiến Việt Nam mất tính cạnh tranh, tác động đến xuất khẩu chiếm tới 86% GDP, trong khi thị trường Mỹ chiếm 30% GDP của Việt Nam, “giúp người dân thoát nghèo”, theo nhận định của John Boudeau, phóng viên của Bloomberg tại thành phố Hồ Chí Minh. Trang Fortune Herald nhận định ngày 30/12 rằng “thương mại với Hoa Kỳ đã đóng vai trò như một bậc thang trên con đường hiện đại hóa kinh tế của Việt Nam”. Việt Nam là một trong những chính phủ đầu tiên liên hệ với Nhà Trắng để đàm phán. Trong buổi họp báo ngày 10/04, người phát ngôn bộ Ngoại Giao Phạm Thu Hằng phát biểu : “Trên tinh thần đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước, Việt Nam sẽ cùng Mỹ tiến hành đàm phán về một thỏa thuận thương mại đối ứng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau nhằm đạt được giải pháp thỏa đáng hướng đến thương mại công bằng, bền vững và đáp ứng được lợi ích của người dân và doanh nghiệp của hai nước”. Và Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở châu Á đạt được thỏa thuận với chính quyền Mỹ, với mức 20%, cùng với nhiều lời hứa giảm thâm hụt thương mại bằng cách mua những sản phẩm có giá trị lớn của Mỹ (máy bay, khí tự nhiên hóa lỏng LNG, nông phẩm…). Việt Nam không thể giảm phụ thuộc vào hàng hóa Trung Quốc Tuy nhiên, một trong những điểm bất đồng lớn nhất trong các cuộc đàm phán là Mỹ yêu cầu Việt Nam siết chặt hơn nữa các biện pháp chống gian lận thương mại và ngăn chặn việc hàng hóa Trung Quốc trung chuyển và đóng gói lại ở Việt Nam để né tránh thuế quan cao hơn. Theo tính toán của Chad Bow, Viện Kinh tế Quốc tế Peterson, thuế quan Mỹ áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc hiện lên tới 47,5%. Còn hàng hóa Việt Nam bị Mỹ đánh thuế nhập khẩu 20% nhưng phải còn có một mức thuế khác lên tới 40% được áp dụng đối với hàng trung chuyển, chủ yếu là Trung Quốc. Nhà báo John Boudeau của Bloomberg nhận định : Việc này vô cùng khó khăn đối với Việt Nam bởi vì rất nhiều nhà máy ở đây không chỉ dựa vào linh kiện, nguyên vật liệu, mà còn dựa vào máy móc đến từ các nước như Trung Quốc. “Việt Nam trở thành nơi trung chuyển hàng hóa Trung Quốc trước khi hướng sang Mỹ”. Điều này được trang Nikkei Asia phản ánh trong phóng sự điều tra đăng ngày 23/12/2025 về cửa khẩu Móng Cái, ngày càng nhộn nhịp, sầm uất với nhiều công trình hạ tầng được xây dựng từ năm 2017, khi chiến tranh thương mại Mỹ-Trung bắt đầu. Hoạt động này gia tăng mạnh hơn trong năm 2025 : “Khối lượng container thông qua Móng Cái tăng vọt. Dữ liệu do ban quản lý cầu Bắc Luân 2 tổng hợp cho thấy, tính đến ngày 06/07/2025, 840.000 tấn hàng hóa đã qua biên giới, tăng 43% so với cùng kỳ năm 2024. (…) Giá trị xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam đã tăng mạnh trong bối cảnh thuế quan cao của Mỹ, cũng như xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ. Trong khi đó, xuất khẩu trực tiếp từ Trung Quốc sang Mỹ lại trì trệ”. Thống kê mới nhất cho năm 2025 được Cục Hải quan công bố ngày 25/12 có thể cho thấy một phần hiện tượng này : “Nhóm hàng công nghệ cao có trị giá lớn nhất, đóng góp nhiều nhất vào tăng xuất nhập khẩu. Cụ thể đối với xuất khẩu ba nhóm hàng có trị giá cao nhất là máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện ; điện thoại các loại và linh kiện ; máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, tổng trị giá là 222 tỉ đô la, chiếm 47% trị giá xuất khẩu cả nước. Đối với nhập khẩu, ba nhóm hàng trên đạt 221 tỉ đô la, chiếm 49% trị giá nhập khẩu của cả nước, tăng 54,3 tỉ đô la so với năm 2024”. Đọc thêmĐại chiến thuế quan Mỹ-Trung, « cây tre » Việt Nam biết ngả về đâu Trong nghiên cứu của ngân hàng ING đăng ngày 03/07/2025, tác giả Deepali Bhargava, trưởng bộ phận nghiên cứu khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhận định : “Đây là một sự thay đổi đáng kể so với năm 2017 (trước khi xảy ra chiến tranh thương mại Mỹ-Trung), khi xuất khẩu máy móc và thiết bị điện tử của Trung Quốc sang Việt Nam đạt 26,9 tỉ đô la và chiếm khoảng 16,6% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc sang Việt Nam, trong khi xuất khẩu máy móc và thiết bị điện tử của Việt Nam sang thị trường Mỹ chỉ đạt 5,9 tỉ đô la và chiếm khoảng 5,3% tổng kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ”. Sự bùng nổ này, có thể một phần là do nhu cầu nội địa gia tăng ở Việt Nam, nhưng cho thấy rõ hoạt động trung chuyển đáng kể, theo bà Deepali Bhargava : Nhiều công ty sử dụng Việt Nam làm điểm lắp ráp linh kiện nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc gia tăng đủ giá trị cho sản phẩm để thay đổi xuất xứ một cách hợp pháp. Tuy nhiên, một số công ty chỉ dán nhãn “Sản xuất tại Việt Nam” lên hàng sản xuất tại Trung Quốc, và đây là hành vi bất hợp pháp nhưng khó truy vết. (…) Việc phân biệt giữa xuất khẩu giá trị gia tăng và xuất khẩu trung chuyển sẽ là yếu tố then chốt trong việc đánh giá tác động tổng thể đến xuất khẩu của Việt Nam, mặc dù chưa rõ trung chuyển có nghĩa là như thế nào. Vẫn theo nghiên cứu của ING, mặc dù hàng hóa trung chuyển không trực tiếp đóng góp vào GDP của Việt Nam nhưng tạo ra hoạt động kinh tế và doanh thu thông qua các dịch vụ như kho bãi, xử lý và vận chuyển, góp phần vào lĩnh vực dịch vụ. “Ngoại giao cây tre” trong thương mại với Mỹ và Trung Quốc Việc giảm lưu lượng trung chuyển có thể gây bất lợi cho Việt Nam trong ngắn hạn. Tuy nhiên, mức độ chênh lệch thuế quan của Mỹ, 20% đối với hàng nhập khẩu của Việt Nam và 40% đối với hàng trung chuyển, buộc Hà Nội phải tăng cường các biện pháp để bảo vệ lợi ích từ xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng mà Việt Nam đang được hưởng. Mức thuế 40% đối với hàng trung chuyển còn cho thấy những hạn chế của ngành công nghiệp Việt Nam, theo nghiên cứu của ING : “Mặc dù rất khó để đánh giá được trực tiếp mức độ trung chuyển, nhưng sự yếu kém trong sản xuất của ngành công nghiệp chế tạo trong nước, bất chấp tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ, cho thấy giá trị gia tăng nội địa còn hạn chế. Để đối phó với tình trạng này, bộ Thương Mại Việt Nam đã ban hành chỉ thị trấn áp việc vận chuyển quá cảnh hàng hóa bất hợp pháp sang Hoa Kỳ và các đối tác thương mại khác bằng cách tập trung hóa việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ điện tử”. Ở quy mô rộng hơn, thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng thỏa thuận thuế quan với Mỹ là một cách để “nâng cao chuỗi giá trị”, vừa là yêu cầu vừa là cơ hội. Mức thuế trung chuyển 40% buộc Việt Nam đẩy nhanh tốc độ chuỗi cung ứng trong nước, cố giảm phụ thuộc vào linh kiện Trung Quốc bằng cách xây dựng lâu dài ngành công nghiệp chất lượng cao, phát triển công nghệ số. Đây cũng là những mục tiêu trong kế hoạch để Việt Nam trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2045. Đọc thêmChủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình công du Việt Nam kêu gọi tăng cường quan hệ thương mại song phương Ngoài ra, Việt Nam tiếp tục mở rộng mạng lưới đối tác, thị trường xuất khẩu để giảm thiểu sự phụ thuộc quá mức do chính sách kinh tế theo chủ nghĩa dân tộc. Cách tiếp cận đa cực được thể hiện trong các thỏa thuận với Liên Hiệp Châu Âu, Ấn Độ, Nga, thậm chí cả các nước vùng Vịnh, châu Phi. Tuy nhiên, trước mắt, Trung Quốc sẽ tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam, theo giải thích của bà Nguyễn Trinh, ngân hàng Natixis : Điều đó giống như yêu cầu Mêhicô ngừng quan hệ thương mại với Hoa Kỳ. Mặc dù Mỹ là thị trường lớn nhất của Việt Nam, nhưng Trung Quốc lại là yếu tố địa-chính trị quan trọng nhất. Trung Quốc nằm ngay sát Việt Nam. Hai nước có mối quan hệ rất phức tạp mà cả hai phải hết sức thận trọng và đây là yếu tố hàng đầu trong quan hệ đối ngoại song phương. Giao thương giữa hai nước sẽ tiếp tục gia tăng với tuyến đường sắt nối Vân Nam (Trung Quốc) với Lào Cai đi qua Hà Nội và đến cảng Hải Phòng. Việt Nam sẽ tiếp tục vận dụng “ngoại giao cây tre” để điều chỉnh quan hệ thương mại với Mỹ và Trung Quốc. Năm 2025, tổng trị giá xuất nhập khẩu của hai thị trường Trung Quốc và Mỹ là 422 tỉ đô la, chiếm tỷ trọng 46% tổng trị giá xuất nhập khẩu của Việt Nam. (1) Theo thông tin Cục Hải Quan (bộ Tài Chính), được báo Thanh Niên trích dẫn ngày 25/12/2025, “Xuất khẩu sang Mỹ đạt kỷ lục gần 152 tỉ USD”. | — | ||||||
| 2/23/26 | ![]() Ông Tô Lâm thâu tóm quyền lực và tác động đối với quan hệ Việt-Mỹ | Tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Tô Lâm đã đến Washington trong tuần qua để dự cuộc họp khai mạc “Hội đồng Hòa bình” do Donald Trump thành lập. Nhân dịp này, ông Tô Lâm đã hội kiến tổng thống Mỹ tại Nhà Trắng ngày 20/02/2026. Chuyến đi Hoa Kỳ của ông Tô Lâm được báo chí quốc tế chú ý vì đây là chuyến công du đầu tiên đến một cường quốc kể từ khi ông được bầu làm tổng bí thư thêm một nhiệm kỳ và kể từ nay thâu tóm mọi quyền lực trong tay. Theo thông báo của chính quyền Hà Nội, trong cuộc gặp với ông Tô Lâm, tổng thống Trump cho biết sẽ xóa tên Việt Nam khỏi "danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược (D1 - D3)", tức là danh sách các quốc gia bị hạn chế tiếp cận công nghệ tiên tiến của Mỹ. Cuộc gặp tại Nhà Trắng diễn ra sau khi các hãng hàng không Việt Nam công bố các hợp đồng trị giá tổng cộng 37 tỷ đô la mua 90 máy bay Boeing. Trang mạng The Diplomat ngày 23/02/2026, nhận định, thông báo nói trên của tổng thống Trump "là dấu hiệu cho thấy sự tin tưởng chiến lược ngày càng tăng giữa hai quốc gia. Tuy nhiên, xét đến vị trí mang tính cơ cấu của Việt Nam trong chuỗi cung ứng liên kết Mỹ và Trung Quốc, thương mại và thuế quan có khả năng sẽ là điểm gây bất đồng chính giữa Hà Nội và Washington trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ thứ hai của ông Trump." Đàm phán thương mại gay go Quan hệ Việt-Mỹ hiện nay đang phần nào bị chựng lại do bế tắc trong đàm phán thương mại song phương. Trên trang mạng The Diplomat ngày 13/02, biên tập viên về Đông Nam Á Sebastian Strangio nhắc lại: “ Washington áp thuế 20% đối với hàng hóa Việt Nam từ tháng 8 năm ngoái. Hai nước đã tổ chức vòng đàm phán thứ sáu vào đầu tháng này, nhưng vẫn chưa đạt được thỏa thuận cuối cùng. Theo các nguồn tin được hãng tin Bloomberg trích dẫn, các cuộc đàm phán thương mại Mỹ-Việt Nam đang bế tắc về định nghĩa hàng hóa “trung chuyển”. Chính quyền Trump cho biết những hàng hóa “trung chuyển” sẽ bị đánh thuế 40%, nhưng vẫn chưa nói cụ thể xác cách thức xác định và xử lý loại hàng hóa đó. Các cố vấn thương mại của ông Trump từ lâu vẫn cho rằng một lượng lớn hàng hóa Trung Quốc được vận chuyển qua Việt Nam, hoặc được sản xuất tại đó với rất ít nguyên liệu đầu vào, để tránh thuế quan của Mỹ đối với Trung Quốc. Họ cho đây là lý do chính dẫn đến thặng dư mậu dịch của Việt Nam đối với Mỹ, mức thặng dư lớn thứ ba thế giới sau Trung Quốc và Mêhicô.” Các cuộc đàm phán thương mại có thể đã trở nên phức tạp hơn do mức thuế 20% đã không làm giảm đáng kể thặng dư thương mại của Việt Nam với Mỹ. Theo số liệu của chính phủ Việt Nam, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã tăng từ 119,6 tỷ đôla năm 2024 lên 153,2 tỷ đôla năm ngoái, tăng 28%, đẩy thặng dư thương mại lên mức kỷ lục gần 134 tỷ đôla vào năm 2025, cao hơn đáng kể so với năm 2024. (1) Sebastian Strangio ghi nhận: “Chưa biết có dẫn đến bước đột phá nào trong thương mại với Mỹ hay không, chuyến công du lần này của ông Tô Lâm dường như phá vỡ một tiền lệ, đó là các lãnh đạo mới được bổ nhiệm của đảng Cộng Sản Việt Nam thường đến thăm Trung Quốc trước bất kỳ cường quốc lớn nào khác. Ngoài chuyến đi ngắn tới Cam Bốt và Lào vào ngày 5-6 tháng 2, chuyến thăm ông Tô Lâm tại Mỹ sẽ là chuyến thăm đầu tiên tới một cường quốc lớn kể từ khi Đại hội Đảng lần thứ 14 bầu ông làm tổng bí thư thêm nhiệm kỳ 5 năm. Thực tế này đã khiến một số nhà quan sát cho rằng nó có thể phản ánh một sự thay đổi tiềm tàng trong định hướng chiến lược của Việt Nam. Tuy nhiên, xét đến tính nhất quán tương đối của chính sách đối ngoại Việt Nam trong hai thập kỷ qua, ta nên thận trọng, không diễn giải quá mức về thời điểm chuyến thăm của ông Tô Lâm sang Mỹ. Ngày diễn ra Hội nghị Thượng đỉnh Hội đồng Hòa bình là do Washington ấn định, chứ không phải do Hà Nội, và chuyến thăm của ông Tô Lâm cũng có thể xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của Việt Nam đạt được một thỏa thuận thương mại với Hoa Kỳ, yếu tố cần thiết nếu đảng Cộng Sản Việt Nam (CPV) muốn đạt được các mục tiêu kinh tế đầy tham vọng trong những năm tới. Ngoài ra, ông Tô Lâm hầu như không cho thấy dấu hiệu nào muốn xa rời Trung Quốc mà thật ra đang làm ngược lại, như nhận xét của Sheena Chestnut Greitens của Đại học Texas, Austin trên mạng X: “Tô Lâm là động lực thúc đẩy tăng cường hợp tác về an ninh nội bộ giữa Việt Nam với Trung Quốc.” Thực tế là, theo Sebastian Strangio, “do tính khí thất thường của ông Trump và chính quyền của ông, cùng với tình trạng không chắc chắn của các cuộc đàm phán thương mại, quan hệ với Hoa Kỳ hiện cần được “chăm sóc” về mặt ngoại giao nhiều hơn so với mối quan hệ Việt Nam - Trung Quốc, vốn vẫn ổn định nhờ vào các chuyến thăm song phương luân phiên hàng năm của các quan chức hai bên. Rất có thể ông Tô Lâm sẽ sớm có chuyến thăm đáp lễ tới Bắc Kinh. Lần cuối cùng ông đi thăm Trung Quốc là vào tháng 8/2024, chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi nhậm chức tổng Bí thư. Ông Tập Cận Bình đã đáp lễ với chuyến thăm Việt Nam hồi tháng 4 năm ngoái.” “Ngoại giao cây tre giữa cơn bão Trump” Trên trang mạng Financial Review của Úc ngày 16/02, ông James Curran, giáo sư Lịch sử Hiện đại và nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Nghiên cứu Hoa Kỳ thuộc Đại học Sydney, ghi nhận về đối ngoại, chính sách “ngoại giao cây tre” của Việt Nam “vẫn còn khá yếu ớt giữa cơn bão Trump”. Giáo sư Curran trích nhận xét của một nhà phân tích: Thuế quan “ngày giải phóng” là một “cú đánh mạnh”, gợi lại những ký ức đau buồn về việc Washington lôi kéo Hà Nội gia nhập TPP ( Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương ), rồi Chú Sam lại rút lui vào phút cuối. Một số người ở Hà Nội đang rất tức giận, nói rằng “người Mỹ hành xử không phải như một nhà tư bản mà là đế quốc”. Hà Nội hiện đang nhắm đến thỏa thuận tương tự thỏa thuận mà thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã nhận được, tức là mức thuế 18%. Nhưng một nguồn tin từ Việt Nam lo ngại không biết chính quyền Washington có nhận thức được hậu quả hay không. Nhân vật này lập luận rằng tâm lý chống Trung Quốc ở Việt Nam đôi khi bị thổi phồng quá mức và nói thêm rằng “mọi người đang nhìn về phía Trung Quốc và tự hỏi liệu đó có phải là lựa chọn tốt hơn hay không.” Theo giáo sư Curran, nói chuyện riêng, các quan chức Mỹ nhấn mạnh thông điệp của họ gửi tới Hà Nội rất thẳng thắn: “Hãy cẩn thận khi chơi trò thân mật với Bắc Kinh quá mức”. Họ nghĩ rằng Hà Nội sẽ nhượng bộ Trung Quốc một số điều, chẳng hạn như qua việc hợp tác trong dự án đường sắt cao tốc, nhưng về các khoáng sản quan trọng, chất bán dẫn và các lĩnh vực khác có tầm quan trọng quốc gia cao, "Hà Nội muốn chúng ta." Chính sách đối ngoại thực dụng Trong bài viết đăng trên trang mạng Geopolitical Monitor ngày 28/01/2026, giáo sư James Borton, Viện Chính sách đối ngoại SAIS - Đại học Johns Hopkins (Mỹ), trước hết nhận định: “Ông Tô Lâm đã làm được điều mà ít nhà lãnh đạo Việt Nam nào làm được từ nhiều thập niên qua: thâu tóm vững chắc quyền lực của Đảng và Nhà nước vào tay mình. Tái đắc cử tổng bí thư và chuẩn bị đảm nhiệm chức chủ tịch nước, ông Tô Lâm hiện đang đứng đầu cơ cấu lãnh đạo tập trung nhất của Việt Nam kể từ thời hậu chiến, một sự tập trung có thể giúp điều chỉnh lại sự cân bằng mong manh giữa Hà Nội và Washington. Những tác động đối với quan hệ Mỹ - Việt Nam là rất sâu sắc.” Theo ông Borton, Washington, đặc biệt là dưới chính quyền Trump nhiệm kỳ thứ hai, vốn công khai ủng hộ việc hợp tác với các nhà lãnh đạo quyền lực, dĩ nhiên là rất hoan nghênh thực tế mới này. Sự tập trung quyền lực của ông Tô Lâm không chỉ là về chính trị, mà còn gắn liền với một kế hoạch kinh tế đầy tham vọng. Hà Nội đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng hàng năm từ 10% trở lên trong giai đoạn 2026-2030, bằng cách đẩy mạnh sản xuất công nghệ cao, chuyển đổi số và mở rộng khu vực tư nhân. Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam phải đảm bảo nguồn vốn, công nghệ và tiếp cận thị trường từ nước ngoài, đặc biệt là từ Hoa Kỳ. Giáo sư Borton viết tiếp: “Yêu cầu cấp thiết về kinh tế đó giải thích cho chính sách đối ngoại thực dụng của ông Tô Lâm. Bất chấp những tranh chấp thương mại định kỳ và những lo ngại dai dẳng của Hoa Kỳ về thặng dư mậu dịch, quản lý tiền tệ và rào cản tiếp cận thị trường của Việt Nam, ông Tô Lâm đã theo đuổi một chính sách dựa trên sự linh hoạt hơn là dựa trên ý thức hệ. Việc ông sốt sắng nhận lời mời của Hoa Kỳ tham gia “Hội đồng Hòa bình”, một hành động được coi là nhanh bất thường theo tiêu chuẩn ngoại giao thận trọng cố hữu của Hà Nội, cho thấy ông sẵn sàng hợp tác với Washington, kể cả dưới thời tổng thống Donald Trump. Thông điệp rất rõ ràng: Để hiện đại hóa kinh tế Việt Nam cần phải có một mối quan hệ ổn định với Hoa Kỳ.” Tuy nhiên, theo giáo sư James Borton, việc ông Tô Lâm củng cố quyền lực cũng khiến tình hình trở nên phức tạp. Việt Nam từ lâu vẫn cố giữ thế cân bằng thận trọng giữa Washington và Bắc Kinh. Một cấu trúc lãnh đạo tập trung hơn có thể làm cho chiến lược cân bằng đó được sắc bén, nhưng cũng có thể thu hẹp không gian cho các cuộc tranh luận nội bộ mà trước đây vẫn giúp điều tiết các biến động về chính sách. Theo giáo sư Borton, ông Tô Lâm thừa hiểu Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam và là thế lực áp đảo về địa lý và chiến lược. Còn Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam và là nguồn cung cấp công nghệ tiên tiến và đầu tư không thể thiếu. Sự thịnh vượng của Việt Nam phụ thuộc vào cả hai mối quan hệ này. Ông Borton viết tiếp: “Với quyền lực tập trung ở cấp cao nhất, ông Tô Lâm có thể hành động quyết đoán hơn trong các cải cách mà các ban lãnh đạo dựa trên sự đồng thuận trước đây vẫn thi hành một cách thận trọng. Các cải cách có thể bao gồm việc điều chỉnh quy định sâu rộng hơn để thu hút đầu tư của Mỹ trong ngành bán dẫn và trí tuệ nhân tạo và mở rộng hợp tác năng lượng - bao gồm các hợp đồng khí đốt tự nhiên hóa lỏng dài hạn của Mỹ, giúp thu hẹp thâm hụt thương mại song phương. Những bước đi như vậy sẽ phù hợp với các ưu tiên kinh tế và chiến lược của Washington.” Nhưng giáo sư Borton lưu ý: “Học thuyết chính sách đối ngoại của Việt Nam vẫn dựa trên sự độc lập, tự lực và chủ nghĩa đa phương. Hà Nội sẽ cố không để mình trở thành đồng minh chính thức của Mỹ hay trở thành một quốc gia đứng tuyến đầu trong cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc. Quyền lực của Tô Lâm có thể cho phép ông đàm phán một cách tự tin với Washington, nhưng sẽ không khiến ông lệ thuộc vào Mỹ.” Đối với Hoa Kỳ, theo giáo sư Borton, “thách thức sẽ là làm thế nào hợp tác với Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tô Lâm để hỗ trợ cải cách kinh tế mà không gây ra phản ứng mang tính dân tộc chủ nghĩa. Việc gây áp lực mạnh mẽ lên Hà Nội về mất cân bằng thương mại hoặc vấn đề tiền tệ có thể làm phức tạp chương trình cải cách của Tô Lâm và củng cố những tiếng nói bảo thủ hơn trong chế độ. Ngược lại, sự hợp tác mang tính xây dựng, đặc biệt là về chuyển giao công nghệ, năng lượng sạch, hợp tác an ninh hàng hải và giáo dục, có thể củng cố con đường đến tăng trưởng giá trị cao hơn và hội nhập toàn cầu sâu rộng hơn của Việt Nam.” ___ (1)Theo AFP ngày 23/02/2026, Cơ quan Hải quan và Biên phòng Mỹ (CBP) thông báo ngừng thu các khoản thuế quan được áp đặt theo Đạo luật Quyền lực Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế (IEEPA) từ 0h01 sáng 24/2 theo giờ miền Đông nước Mỹ (12h01 giờ VN), tức hơn ba ngày sau khi Tòa án Tối cao Mỹ tuyên bố phần lớn các mức "thuế đối ứng" mà chính quyền Trump ban hành ngày 02/04/32025 là bất hợp pháp. | — | ||||||
| 2/9/26 | ![]() Pháp, Việt Nam tăng cường quan hệ đối tác pháp luật trong thời đại công nghệ số | Pháp luật là một trong những lĩnh vực hợp tác lâu năm nhất giữa Pháp và Việt Nam. Hợp tác trong lĩnh vực này bắt đầu từ những năm 1990 và dựa trên sự tương đồng giữa hệ thống pháp luật của hai nước, cũng như sự quan tâm của Việt Nam đến kinh nghiệm của Pháp. Mục tiêu chủ yếu của quan hệ đối tác này là hỗ trợ các cải cách hướng tới xây dựng một nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Sự hợp tác này được tổ chức thông qua các hội thảo chia sẻ chuyên môn và các hội nghị với các bộ, ngành của Việt Nam, các chuyên gia pháp luật và các học giả. Để đánh dấu 30 năm hợp tác trong lĩnh vực pháp luật, trong tháng 11 vừa qua, Pháp và Việt Nam đã tổ chức Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp. Nhân dịp này, một phái đoàn của bộ Tư Pháp của Pháp đã đến thăm Việt Nam, dẫn đầu là bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín. Theo thông báo của đại sứ quán Pháp, phái đoàn Pháp đã trao đổi với lãnh đạo Vụ Hợp tác quốc tế Tòa án Nhân dân Tối cao “về những vấn đề pháp lý cùng quan tâm”, trao đổi về tương trợ dân sự quốc tế với Vụ Pháp luật quốc tế thuộc bộ Tư pháp Việt Nam, đồng thời ký kết Chương trình hợp tác giai đoạn 2026–2027 giữa bộ Tư Pháp của hai nước. Tham gia phái đoàn Pháp đến thăm Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh còn có nhiều chuyên gia pháp lý (công chứng viên, luật sư, thẩm phán và chấp hành viên), trong đó có luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, chủ tịch Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam ( ACJEV ) và cũng là chủ tịch Ủy ban Việt Nam của Luật sư đoàn Paris, một ủy ban được thành lập vào năm 2013. Trả lời RFI Việt ngữ tại Paris ngày 12/12/2025, luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot cho biết: “Tôi tham gia phái đoàn Pháp từ ngày 24 đến 21/11 tham dự Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp Pháp-Việt. Đây là lần đầu tiên sự kiện được tổ chức và chúng tôi đã tham dự nhiều hội thảo, gặp gỡ Tòa án Nhân dân Tối cao và bộ trưởng Tư Pháp, cũng như dự lễ ký kết chương trình hành động hai năm 2026-2027 với sự hiện diện của thứ trưởng bộ Tư Pháp. Phái đoàn Pháp do bộ Tư Pháp dẫn đầu, bao gồm bà Valérie Delnaud, tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín và một số quan chức khác của bộ Tư Pháp, cùng với hai luật sư từ Hội đồng Luật sư Quốc gia (mà tôi là một trong những thành viên), hai công chứng viên từ Hội đồng Công chứng cấp cao, các chấp hành viên và đại diện từ Quỹ Luật Châu lục. Hợp tác pháp lý Pháp-Việt là lâu đời nhất, bắt đầu từ những năm 1990, khi tổng thống François Mitterrand thăm Việt Nam và Đại sứ Blanche Maison đang tại nhiệm. Vào thời điểm đó, Nhà Pháp luật Việt-Pháp được thành lập. Trung tâm này đã đóng cửa vào năm 2012 và năm 2013, Luật sư đoàn Paris đã lập cơ sở quốc tế đầu tiên tại Thành phố Hồ Chí Minh, thu hút một lượng lớn các chuyên gia pháp lý từ các trường đại học cũng như các luật sư Pháp, Việt Nam và châu Âu. Kể từ đó, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam, chúng tôi đã tham gia vào sự hợp tác này. Đầu tiên, chúng tôi thành lập một hiệp hội gọi là Hội Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam, hầu như năm nào cũng đến Việt Nam để đóng góp vào sự hợp tác này theo cách riêng và ở cấp độ của mình, thông qua các hội thảo về nhiều chủ đề khác nhau, theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Nhóm của chúng tôi luôn sẵn sàng và trong nhóm, chúng tôi bổ sung cho nhau rất tốt, và có một sự liên tục nhất định trong sự hợp tác này, một sự hợp tác cũng gắn liền với cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi hoàn toàn muốn các hội thảo của mình được tổ chức bằng tiếng Pháp và điều này là theo yêu cầu của các học giả và hiệp hội luật sư Việt Nam.” Trong Tuần lễ Pháp - Việt Nam về Pháp luật và Tư pháp, một cuộc gặp gỡ đã diễn ra tại trụ sở Liên đoàn Luật sư Việt Nam giữa các luật sư của phái đoàn Pháp với Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam, các phó chủ tịch và các thành viên Ban Quan hệ Quốc tế của Liên đoàn. Cuộc gặp này là trong khuôn khổ các trao đổi giữa Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Hội đồng Quốc gia các Luật sư đoàn Pháp. Tuần lễ Pháp luật và Tư pháp được tổ chức trong tháng 11 vừa qua đã là dịp thúc đẩy và định hình các trao đổi mới trong lĩnh vực đại học, đặc biệt xoay quanh đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, những chủ đề then chốt trong tiến trình hiện đại hóa hệ thống pháp luật của hai nước. Theo bộ Tư Pháp Việt Nam, trong những năm gần đây, phía Pháp đã tiếp tục hỗ trợ bộ này trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế, trong đó có các đạo luật quan trọng như Bộ luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và Gia đình, Nghị định Hòa giải thương mại…, đồng thời tăng cường hợp tác giữa các nghề luật của hai nước như công chứng viên, thừa phát lại, đấu giá viên… Ngoài các phiên họp chính thức, đây đã là dịp để các chuyên gia Việt Nam và Pháp tham gia ba buổi hội thảo về những thách thức pháp lý phát sinh từ quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, theo lời luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot: “Pháp luôn được tham vấn mỗi khi Việt Nam thực hiện một dự án cải cách. Pháp được xem là mô hình cho Việt Nam. Năm nay, bộ Tư Pháp của Pháp, trong khuôn khổ Tuần lễ Pháp luật, đã nêu bật những thách thức ở cấp độ châu Âu do việc quản lý trí tuệ nhân tạo và bảo vệ dữ liệu cá nhân đặt ra. Mục tiêu là dung hòa những đổi mới công nghệ với việc bảo vệ các quyền cơ bản và bảo vệ tính độc lập của tư pháp, vốn là nguyên tắc thiết yếu của nhà nước pháp quyền. Do bộ Tư Pháp của Pháp và bộ Tư Pháp của Việt Nam phối hợp tổ chức, với sự hỗ trợ của Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội, chương trình của Tuần lễ Pháp luật rất dày đặc, bao gồm chuyến thăm và cuộc gặp với một trong các phó chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao. Tiếp theo, ngày hôm sau, chúng tôi có một hội thảo kéo dài cả ngày với Đại học Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hội thảo này tập trung vào đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, với các bài thuyết trình của nhiều học giả đến từ Đại học Luật Hà Nội và Đại học Huế, cũng như các giáo sư đến từ Pháp. Dĩ nhiên đã có bài thuyết trình của tổng vụ trưởng Vụ Các vấn đề dân sự và ấn tín của Pháp, cũng như của các công chứng viên và chấp hành viên. Chủ đề chính là trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, và làm thế nào để kết hợp những đổi mới công nghệ này với việc bảo vệ các quyền cơ bản, duy trì tính độc lập của tư pháp, và làm thế nào để dung hòa tất cả những điều này. Việc xây dựng một môi trường tin cậy là rất cần thiết để đảm bảo AI hoạt động hiệu quả. Chúng tôi đang làm việc cho tương lai. AI không phải là mới, nhưng đúng là chúng ta vẫn chưa hoàn toàn kiểm soát được công nghệ. Chúng ta cần tập hợp các nguồn lực. Bộ Tư Pháp của Pháp giới thiệu các mô hình châu Âu và trao đổi ý tưởng với các đối tác Việt Nam, những người cũng đã tiến rất xa trong lĩnh vực này. Vì vậy, tôi nghĩ tương lai hoàn toàn khả thi đối với việc sử dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực pháp luật và tư pháp.” Hội thảo chuyên đề đầu tiên, được tổ chức vào ngày 25/11/2025 tại Trường Đại học Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, là về chủ đề “Thể chế pháp lý và đổi mới sáng tạo”, tập trung vào việc điều chỉnh pháp luật tại Pháp, Việt Nam và trên thế giới trong bối cảnh phát triển xã hội, khoa học và công nghệ. Hội thảo thứ hai, với chủ đề « Thể chế pháp lý và Trí tuệ Nhân tạo », được tổ chức vào ngày 27/11 tại Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đặt ra những tranh luận thiết yếu về các vấn đề pháp lý xoay quanh trí tuệ nhân tạo và các quy định liên quan. Trong khuôn khổ quan hệ đối tác giữa Trường Thẩm phán Quốc gia (Pháp) và Học viện Tư pháp (Việt Nam), một hội thảo kết hợp trực tuyến và trực tiếp về « Sử dụng trí tuệ nhân tạo của thẩm phán » đã được tổ chức để phân tích sự đóng góp của AI vào việc quản lý tư pháp tại Pháp và Việt Nam. Theo luật sư Thị Mỹ Hạnh Ngô Folliot, trong khi đó Hội Hợp tác Hợp tác Pháp lý Châu Âu-Việt Nam vẫn tiếp tục đáp ứng các nhu cầu đào tạo của phía Việt Nam: “Nhu cầu đào tạo ngày càng tăng, đặc biệt là kể từ khi Việt Nam khởi xướng việc thành lập hai trung tâm tài chính quốc tế trong năm nay tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, và chúng tôi có yêu cầu cấp thiết là quay lại hàng năm để cung cấp các khóa đào tạo bằng tiếng Pháp cho các học giả và luật sư nhằm tiếp tục tăng cường hợp tác và cùng nhau tiến lên. Hiệp hội của tôi và cá nhân tôi đã tham gia vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt này trong suốt 25 năm qua. Tôi đã mang theo cả một đội ngũ, hầu như năm nào cũng sẵn sàng đến Việt Nam theo yêu cầu của các đối tác Việt Nam. Đó là một đội ngũ bổ sung, mang đến cách tiếp cận đa ngành, và mỗi thành viên đều đóng góp đáng kể vào hợp tác pháp lý Pháp-Việt. Hầu hết các tổ chức và trường đại học đều do những người nói tiếng Pháp, từng học ở Pháp điều hành. Vì vậy, việc đào tạo tiếng Pháp không phải là vấn đề. Họ hoàn toàn có khả năng, và ngay cả khi đôi khi một số người trẻ không được đào tạo tiếng Pháp cũng nói tiếng Anh và giao tiếp rất tốt với chúng tôi. Chúng tôi đã bắt đầu soạn thảo dự án với các trường đại học và hiệp hội luật sư. Tại hội nghị ngày 25/11/2025, tôi đã gặp lại các sinh viên đến từ các trường đại học Toulouse-Capitole, Lyon 3 và Bordeaux. Theo yêu cầu của các giáo sư, tôi đã hướng dẫn các em trong một ngày học vào tháng Tư năm ngoái trước khi các em sang Việt Nam. Hiện các sinh viên này đang theo học năm thứ hai chương trình Thạc sĩ Hợp tác Kinh tế và Luật Thương mại Quốc tế tại Hà Nội. Ngoài ra, năm 2026 sẽ diễn ra Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ lần thứ 20 tại Siem Reap, Cam Bốt , ngay sát bên. Chúng tôi sẽ cố gắng có mặt ở đó, vì một trong những mục tiêu của hiệp hội chúng tôi là Cộng đồng Pháp ngữ. Chúng tôi sẽ cố gắng kết nối hai bên và phát triển hơn nữa tiếng Pháp tại Việt Nam.” Theo báo chí Việt Nam, bộ Tư Pháp Pháp, Quỹ Luật lục địa cũng như Trường Đại học Paris-Assas đang phối hợp với bộ Tư Pháp Việt Nam và Trường Đại học Luật Hà Nội để thúc đẩy việc thành lập Trung tâm Pháp luật Pháp tại đại học này. Phía Việt Nam cho biết Trường Đại học Luật Hà Nội đã chuẩn bị sẵn sàng cơ sở vật chất cho Trung tâm và mong muốn phía Pháp hỗ trợ chuyên gia và giảng viên tới giảng dạy tại Trung tâm Pháp luật Pháp. Tuy nhiên phía Pháp hiện chưa đáp ứng các yêu cầu này. | — | ||||||
| 2/2/26 | ![]() Liên Âu hy vọng Việt Nam thực hiện triệt để cải cách hành chính để gia tăng hấp dẫn đối với đầu tư châu Âu | Liên Hiệp Châu Âu hiện là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba và là thị trường nhập khẩu lớn thứ năm của Việt Nam. Năm 2026 được coi là “thời điểm vàng” để doanh nghiệp Việt Nam khai thác tối đa lợi thế từ Hiệp định Thương mại Tự do (EVFTA) với Liên Âu vì lộ trình cắt giảm thuế quan giữa hai bên đã tiến gần đến 100%. EU cũng không ngừng hỗ trợ Việt Nam trong chuyển đổi xanh để đáp ứng tiêu chí sản phẩm của khối 27 nước. Kể từ khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực ngày 01/08/2020, giao thương giữa Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu không ngừng gia tăng. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 73,8 tỷ đô la, trong đó Việt Nam xuất siêu khoảng 30 tỷ đô la. Theo báo Đầu tư ngày 07/01, Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Liên Âu trong khối ASEAN, đứng trong top 10 nhà cung ứng hàng hóa cho thị trường EU (Eurostat 2024). Doanh nghiệp châu Âu tin vào Việt Nam Liên Âu hiện là nhà đầu tư lớn thứ 6 của Việt Nam. Việt Nam trở thành điểm hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư Liên Âu. Trả lời RFI Tiếng Việt ngày 20/01/2026, đại sứ Liên Hiệp Châu Âu tại Việt Nam Julien Guerrier nhận định : “Tôi thậm chí có thể nói rằng trong một hoặc hai năm gần đây, chúng ta đã thấy sự gia tăng đáng kể về niềm tin của các nhà đầu tư châu Âu vào Việt Nam. Điều này được Phòng Thương mại Châu Âu - EuroCham tại Việt Nam đo lường hàng tháng. Mức độ tin tưởng vào đất nước gia tăng nhanh chóng. Năm 2025, tăng trưởng của Việt Nam đạt 8% và Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai chữ số trong những năm tới. Vì vậy, đây là một quốc gia có nhiều cơ hội kinh tế, nơi có một mong muốn thực sự, một tầm nhìn để hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam, và là nơi đang thu hút ngày càng nhiều công ty châu Âu. Hiện tại có 1.500 công ty thành viên của EuroCham đang đầu tư mạnh vào Việt Nam. Đọc thêmHiệp định Tự do Thương mại EU-Việt Nam : Pháp-Việt được lợi gì? Cụ thể, theo Chỉ số Niềm tin Kinh doanh (BCI) quý IV năm 2025 được EuroCham thực hiện, niềm tin đã tăng 13,5 điểm so với quý trước và lên đến 80 điểm - mức cao nhất trong 7 năm gần đây. Chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert đánh giá trong bài nhận định đăng trên The Investor ngày 19/01 : “Đây không chỉ là một con số ấn tượng, nó còn báo hiệu một sự chuyển biến rõ ràng trong tâm lý kinh doanh châu Âu, từ sự phục hồi thận trọng sang niềm tin chiến lược… Từ 2021 đến 2025, các nhà đầu tư châu Âu đã rót hơn 28 tỷ đô la vào Việt Nam. Điều này cho thấy niềm tin dài hạn của họ và tiềm năng của đất nước”. Trước đó, tại Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Thương mại Việt Nam - EU 2025, diễn ra ngày 17/10/2025, phó chủ tịch EuroCham Jean-Jacques Bouflet nhận định : 76% lãnh đạo doanh nghiệp châu Âu hiện nay nhìn nhận Việt Nam là điểm đến đầu tư hấp dẫn, và 80% dự báo điều kiện sẽ còn thuận lợi hơn trong 5 năm tới. Khả năng phục hồi và tư duy cải cách : Hai yếu tố củng cố niềm tin Niềm tin này được căn cứ vào hai yếu tố chủ đạo : Khả năng phục hồi đáng kể ; tư duy cải cách mạnh mẽ. Khả năng phục hồi Về yếu tố thứ nhất, Việt Nam được giới chuyên gia đánh giá là đã thể hiện được sự linh hoạt, khéo léo hóa giải các biện pháp thuế đối ứng (ban đầu lên đến 46%) của tổng thống Mỹ Donald Trump. Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, nhận định với RFI Tiếng Việt : “Vấn đề thuế quan (với Mỹ) đã được Việt Nam đàm phán khá khéo léo, và cuối cùng họ không bị thiệt hại quá nhiều. Còn về quan hệ song phương với Trung Quốc, quan hệ đối tác kinh tế và thương mại đã cởi mở hơn và nhiều hơn. Nhìn từ góc độ này, bối cảnh rất đặc biệt cho Việt Nam, nhưng “ngoại giao cây tre” đã chứng tỏ hiệu quả đáng kể, bởi vì Việt Nam đã phần nào vượt qua các cuộc xung đột đánh dấu năm 2025 mà không bị thiệt hại đáng kể”. Năm 2025, Việt Nam gia nhập nhóm 25 nền kinh tế có trị giá xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới, với tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt 920 tỷ đô la. Theo Cục Hải quan, Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất (152 tỷ đô la) của Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp hàng hóa lớn nhất (183 tỷ đô la) cho Việt Nam. Tư duy cải cách Tư duy cải cách mạnh mẽ là yếu tố thứ hai tác động đến niềm tin của doanh nghiệp châu Âu vào Việt Nam. Ngày 16/01, hãng tin Pháp AFP nhận định “từ khi lên nắm giữ vị trí cao nhất cách đây chỉ 17 tháng, ông Tô Lâm đã tiến hành chiến dịch chống tham nhũng quyết liệt, giảm bớt thủ tục hành chính và thúc đẩy đầu tư vào các công trình cơ sở hạ tầng” : từ 30 bộ và cơ quan chính phủ giảm xuống còn 22, giảm gần 150.000 công chức, khởi động nhiều dự án đầy tham vọng về đường sắt và năng lượng. Đối với nhiều nhà ngoại giao và nhà phân tích, được AFP trích dẫn ngày 16/01, “chính trị gia 68 tuổi là một chiến lược gia khôn khéo, có khả năng chấp nhận rủi ro, và những canh bạc táo bạo nhất của ông đã mang lại thành công”. Giáo sư danh dự Carl Thayer, Đại học New South Wales (Úc), “không gọi ông Tô Lâm là Trump của Việt Nam, nhưng đó là một nhà lãnh đạo tìm cách củng cố quyền lực để đưa ra những quyết định nhanh chóng và dứt khoát”. Đọc thêmEuroCham : Tinh giản hành chính nhưng cần nhanh, hiệu quả để Việt Nam tăng hấp lực Tân tổng bí thư “Tô Lâm sẽ vạch ra hướng đi cho các cải cách đã ấp ủ trong năm qua”, theo nhận định với AP của Nguyễn Khắc Giang, nghiên cứu viên thỉnh giảng tại Chương trình Nghiên cứu Việt Nam, Viện ISEAS-Yusof Ishak (Singapore) : “Tôi cho rằng các cải cách sẽ tiếp tục được đẩy nhanh sau Đại hội Đảng. Nhưng rõ ràng, sẽ có rất nhiều rào cản đối với các cải cách của ông ấy, đặc biệt là nếu nhìn vào cách thức mà các phe phái bảo thủ, nhất là quân đội, sẽ đặt ra nhất nhiều hạn chế, vì lo ngại rằng các cải cách sẽ đi quá xa, khiến Việt Nam có thể đi chệch khỏi con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng muốn đề ra cho đất nước”. EU sẵn sàng đồng hành trong quá trình chuyển đổi Vậy mô hình tăng trưởng mới gồm những điểm gì ? Đó là tái cấu trúc nền kinh tế, đặt mục tiêu tăng trưởng ít nhất là 10% hàng năm cho đến 2030, đưa thu nhập bình quân đầu người lên khoảng 8.500 USD vào năm 2030 ; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP; tỷ trọng kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Để thực hiện chiến lược này, chính phủ coi trọng ba nhóm giải pháp chính : Hoàn thiện thể chế để phát triển, xóa bỏ những điểm nghẽn, rào cản, giải phóng mọi nguồn lực (…) ; Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, trọng dụng nhân tài (…) ; Phát triển xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; nhất là hạ tầng giao thông chiến lược (đường sắt, cảng biển), hạ tầng công nghệ, hạ tầng năng lượng. Những hạ tầng này hết sức quan trọng để bảo đảm tăng trưởng 2 con số trở lên trong thời gian tới và mục tiêu đến năm 2045 trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao. Đây cũng là ba trụ cột cốt lõi được chủ tịch EuroCham Bruno Jaspaert nhấn mạnh khi nói về chiến lược phát triển của Việt Nam để đạt được tham vọng này. Cụ thể, Liên Hiệp Châu Âu, cũng như các nhà đầu tư châu Âu, trông đợi gì từ Đại hội Đảng XIV ? Đại sứ EU Julien Guerrier nhận định với RFI Tiếng Việt : “Đại hội cần hướng tới việc xác định và phê duyệt các chính sách đã được hoạch định cho 5 năm tới. Việt Nam đang thực hiện quá trình đơn giản hóa hành chính ở quy mô lớn, bao gồm việc sáp nhập các tỉnh, bộ và đơn giản hóa các thủ tục, tất cả nhằm mục đích hiện đại hóa đất nước và thu hút đầu tư. Tôi nghĩ rằng điều mà chúng tôi kỳ vọng, đó là sự thành công của tất cả các cải cách này, để môi trường kinh doanh trở nên hấp dẫn hơn đối với các doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư vào các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, công nghiệp xanh và chuyển đổi số. Đây là những ngành công nghiệp của tương lai và cũng là những lĩnh vực mà Liên Hiệp Châu Âu có lợi thế cạnh tranh và có thể cung cấp cho Việt Nam những giải pháp công nghệ cao, an toàn, bảo đảm tính tự chủ chiến lược và độc lập kinh tế của Việt Nam đối với việc phát triển trong tương lai về những lĩnh vực trọng điểm này”. Đọc thêmEU-Việt Nam vượt bão thuế quan Mỹ qua Hiệp định Thương mại Tự do EVFTA ? Một khung pháp lý minh bạch, ổn định và nhất quán chính là nền tảng để xây dựng một nền kinh tế có thể tiến xa và tăng trưởng bền vững, để thuyết phục được các nhà đầu tư tự tin đặt những “viên gạch” dài hạn. Điểm này đã trở thành điều kiện tiên quyết trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao. Chủ tịch EuroCham cho rằng “nếu làm tốt, Việt Nam hoàn toàn có thể thu hút thêm nhiều dòng vốn châu Âu vào các lĩnh vực giá trị gia tăng cao như công nghệ, năng lượng tái tạo, sản xuất xanh và dịch vụ hiện đại”. Để hỗ trợ chuyển đối số, chuyển đổi xanh được chính phủ Việt Nam khẳng định “là hai yếu tố căn bản cấu thành một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược”, Liên Hiệp Châu Âu và chính phủ Việt Nam đã ký Hiệp định tài trợ cho Chương trình Giáo dục nghề nghiệp Việt Nam (VETVET) với hơn 50 triệu euro. Được ký ngày 31/12/2025 - ngay trước khi khai mạc Đại hội Đảng XIV, Hiệp định có hiệu lực đến năm 2030, trùng với kế hoạch 5 năm 2026-2030. Đại sứ Julien Guerrier đánh giá Chương trình VETVET cũng sẽ giúp Việt Nam tăng sức hấp dẫn cũng như đáp ứng nhu cầu nhân lực của các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư châu Âu, vào Việt Nam. | — | ||||||
| 1/26/26 | ![]() Việt Nam: Những thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng của đảng Cộng Sản | Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 14 đã kết thúc ngày 23/01/2026 sau khi Ban Chấp hành Trung ương "thống nhất tuyệt đối" bầu ông Tô Lâm tiếp tục giữ chức tổng bí thư. Ông Tô Lâm đã từng tuyên bố Đại hội Đảng lần này đánh dấu sự khởi đầu của một “kỷ nguyên mới”, với mục tiêu đưa Việt Nam trở thành “một quốc gia hiện đại có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.” Trong bài phát biểu khai mạc Đại hội hôm 20/01, tổng bí thư Đảng cũng đã đề ra một mục tiêu đầy tham vọng : đạt mức tăng trưởng GDP hàng năm ít nhất 10% trong giai đoạn 2026-2030. Nhưng đó là những mục tiêu đầy thách thức đối với ban lãnh đạo mới của đảng Cộng Sản Việt Nam. Cải cách hành chính: Tác động tích cực và tiêu cực Nguyên là bộ trưởng Công An, ông Tô Lâm đã lên làm tổng bí thư sau khi ông Nguyễn Phú Trọng qua đời vào tháng 8/2024. Trong thời gian ngắn nắm quyền, ông đã đẩy nhanh các cải cách hành chính, cắt giảm số lượng bộ, ngành của chính phủ từ 30 xuống còn 22, giảm số lượng các đơn vị hành chính cấp tỉnh và thành phố từ 63 xuống chỉ còn 34. Trả lời RFI Việt ngữ ngày 21/01/206, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, Singapore, nhận định: "Các cải cách này đã gây ra những tác động sâu rộng chưa từng có từ trước tới nay. Thứ nhất là về mặt tích cực, các biện pháp này giúp giảm bớt sự cồng kềnh của bộ máy hành chính, bộ máy Đảng và các cơ quan đoàn thể, qua đó giúp tăng hiệu quả quản lý nhà nước, cũng như tăng hiệu quả của công tác quản trị và xây dựng Đảng. Thứ hai, bộ máy được tinh gọn như vậy thì giúp nhà nước tiết kiệm được ngân sách để đầu tư vào các lĩnh vực phát triển, cũng như đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng, hay là đầu tư vào hệ thống phúc lợi cho người dân. Mặt tích cực thứ ba là việc tinh gọn guồng máy sẽ giúp tăng tính thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng, tăng hiệu quả quản trị nhà nước và nâng cao năng lực của bộ máy chính trị và hành chính về lâu dài, qua đó giúp Việt Nam ngày càng ổn định, vững chắc hơn, cũng như có thể phát triển nhanh hơn trong thời gian tới. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có những mặt trái hay những rủi ro. Ví dụ như trong thời gian qua cũng có những phản ánh, những lời phàn nàn về sự đứt gãy, hay gián đoạn trong công tác quản trị, hay trong việc cung cấp một số dịch vụ công, do tình trạng thiếu nhân lực khi bộ máy bị tinh gọn. Nhiều cán bộ ở lại thì chưa được trang bị những kiến thức mới để đảm nhiệm các nhiệm vụ mới, do tình trạng thiếu trang thiết bị máy móc, hay do hệ thống công nghệ thông tin chưa được điều chỉnh hay cập nhật kịp thời để tương thích với cơ cấu bộ máy chính quyền mới. Tình trạng này cũng có thể ảnh hưởng tới phát triển kinh tế, vì như tôi được biết, việc cấp phép hoặc xét duyệt các dự án, hay là thông qua các giấy phép cho một số doanh nghiệp cũng bị đinh trệ. Một mặt tiêu cực khác, đó là xuất hiện sự bất mãn trong một bộ phận cán bộ. Những cán bộ này được ở lại, nhưng do những vấn đề như tôi đã nói trên, họ bị quá tải công việc. Bộ máy tinh gọn nhưng công việc thì không những không giảm mà có thể tăng lên. Đặc biệt là những cán bộ ở các tỉnh thành bị sát nhập mà trung tâm hành chính lại đặt ở tỉnh khác, họ phải di chuyển rất xa đến nơi làm việc, họ phải sống xa vợ con gia đình nhiều ngày trong tuần. Trong số những người mà tôi đã phỏng vấn trong những chuyến tôi về Việt Nam, rất nhiều ý kiến cho rằng chủ trương sát nhập tỉnh thành hay tinh gọn bộ máy là cần thiết, nhưng những cải cách này đã được tiến hành một cách quá vội vàng, chưa cân nhắc thấu đáo các hậu quả. Đáng lẽ nó có thể được tiến hành theo từng giai đoạn, theo một trình tự, để bộ máy điều chỉnh kịp thời, thích nghi dần, rồi sau đấy mới đi tới các bước tiếp theo." Trong bài viết đăng trên trang mạng East Asia Forum ngày 10/01/2026, nhà nghiên cứu Alexander L. Vuving nhắc lại, dưới sự lãnh đạo của ông Tô Lâm, Bộ Chính Trị đã thông qua 4 nghị quyết từ cuối năm 2024 đến giữa năm 2025, vạch ra chiến lược để đạt được các mục tiêu đề ra. Các nghị quyết bao gồm đổi mới khoa học và công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, theo ông Alexander L. Vuving, “cách thức thực hiện các chính sách cụ thể lại gây ra nhiều tranh cãi. Việc tái cấu trúc lãnh thổ quy mô lớn đã được thực hiện mà không tôn trọng cấu trúc theo chiều ngang và bản sắc địa phương. Các quyết định quan trọng về phát triển kinh tế và cơ sở hạ tầng cũng được đưa ra mà không có sự tham vấn công chúng một cách thực chất, như quyết định xây dựng đường sắt cao tốc dọc bờ biển, xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân và đặt mục tiêu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm 10% trở lên trong những thập kỷ tới.” Phát triển kinh tế tư nhân: Chỉ có lợi cho các tập đoàn lớn Ông Tô Lâm xem khu vực tư nhân là một “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế Việt Nam, cho dù khu vực nhà nước vẫn giữ “vai trò chủ đạo”. Nhưng theo nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, chính sách thúc đẩy kinh tế tư nhân cho tới nay chủ yếu có lợi cho các tập đoàn lớn: "Từ khi ông Tô Lâm lên nắm quyền, chúng ta thấy là một số doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã phát triển rất nhanh, đã mở rộng rất nhanh, đặc biệt là một số các doanh nghiệp mà tôi cho rằng có quan hệ tốt với chính quyền, cụ thể là với bộ Công An, hay với những cơ quan liên quan tới an ninh, những tập đoàn như là Vingroup, Sun Group, Masterise Group hay TNT v.v.... Trong khoảng hơn một năm qua, họ phát triển rất nhanh về số lượng dự án, rồi đầu tư vào các lĩnh vực mới. Điều này cho thấy rằng những doanh nghiệp đó đã ít nhiều được hưởng lợi từ chính sách tạo điều kiện cho lĩnh vực kinh tế tư nhân phát triển. Tuy nhiên, các chính sách này hầu như chỉ mang lại lợi ích cho một số tập đoàn lớn, mà chưa tạo ra được những lợi ích đồng đều, lan tỏa ra các doanh nghiệp khác. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chưa có được những sự hỗ trợ cần thiết. Một số thành phần như kinh tế cá thể, kinh tế gia đình thì đang gặp rất nhiều khó khăn và thách thức. Họ là những bộ phận rất quan trọng tạo ra việc làm cho người dân, nhưng họ cũng đang tuân thủ các quy định về thuế, về hóa đơn, chứng từ..., khiến rất nhiều doanh nghiệp đóng cửa. Chính phủ Việt Nam phải cải cách pháp lý và chính sách để làm sao tạo ra được môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng, không chỉ giúp các doanh nghiệp tư nhân lớn phát triển, mà có thể thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển theo. Thứ hai là cũng phải cải thiện cơ sở hạ tầng nhằm hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp tư nhân. Thứ ba là tạo thuận lợi cho việc tiếp cận tài chính và tín dụng, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thứ tư là thời gian qua Việt Nam đã thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Trong thời gian tới, khía cạnh này cũng cần được tiếp tục thúc đẩy trong khu vực kinh tế tư nhân, không chỉ ở các doanh nghiệp lớn, mà còn ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ, để họ có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo đà để họ có thể phát triển ngày càng lớn mạnh, trở thành các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp quốc tế. Trong bài viết đăng trên mạng ngày 19/01/2026, nhật báo Mỹ The New York Times ghi nhận ông Tô Lâm được xem là một nhân vật “có thể tạo ra những điều kiện thuận lợi hơn cho nhiều loại hình doanh nghiệp tư nhân”. Nhưng các nhà phân tích nhấn mạnh “đảng vẫn ưu tiên sự kiểm soát tập trung. Mặc dù có năng suất thấp, các công ty nhà nước vẫn được hưởng ưu đãi đặc biệt.” Đảng có kế hoạch xây dựng một mô hình mới cho tăng trưởng kinh tế, giảm bớt sự phụ thuộc vào lao động tay nghề thấp và dựa nhiều hơn vào khoa học và công nghệ. Theo The New York Times, “thách thức chính của Việt Nam là ở việc thực hiện các chính sách nhằm xây dựng một môi trường cởi mở hơn, hiệu quả hơn và cạnh tranh hơn. Về nội bộ, một mối nguy hiểm là sự tồn tại của một nhóm nhỏ các doanh nghiệp được nhà nước ưu ái với năng suất thấp.” Theo mô hình chaebol: Cần thiết, nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro Bên cạnh việc nhìn nhận kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, ông Tô Lâm còn có tham vọng phát triển những đại tập đoàn tư nhân theo kiểu các chaebol của Hàn Quốc. Nghị quyết 68 nêu rõ tham vọng của Việt Nam thúc đẩy sự phát triển 20 doanh nghiệp hàng đầu quốc gia vào năm 2030. Nhưng nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp đưa ra lời cảnh báo: "Điều quan trọng là chúng ta cần học hỏi các điểm tốt, nhưng phải tránh các mặt bất lợi, các mặt xấu. Điểm tốt từ mô hình chaeebol Việt Nam có thể học hỏi đó là tạo ra những cơ chế giúp các doanh nghiệp tư nhân có thể tập trung các nguồn lực và qua đó trở thành các tập đoàn lớn, có sức cạnh tranh cao, không chỉ ở phạm vi trong nước, mà phạm vi quốc tế. Qua đó có thể giúp Việt Nam mở rộng tiềm lực kinh tế và ảnh hưởng của mình lên toàn cầu. Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp này phát triển như vậy thì nó cũng có những mặt trái. Ví dụ như ở Hàn Quốc, các chaebol nổi tiếng là có sự tham gia vào những mạng lưới chính trị và qua các mạng lưới này thì họ giành được các nguồn lực để phát triển. Tuy nhiên, đi kèm theo là tình trạng hối lộ, tham nhũng, hay các mối quan hệ thân hữu, qua đấy nó làm xói mòn niềm tin của công chúng vào chính quyền. Khi các doanh nghiệp này tận dụng những mối quan hệ với chính phủ để phát triển như vậy thì nó cũng bóp nghẹt sự cạnh tranh và khả năng sáng tạo, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khi mà các chaebol của Hàn Quốc phát triển thì họ cũng phát triển một cách liều lĩnh, ví dụ như vay nợ quá mức để tham gia vào nhiều lĩnh vực phát triển đa ngành. Các chaebol Hàn Quốc đã là một phần nguyên nhân quan trọng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Một số mặt trái như vậy tôi thấy cũng đang xuất hiện ở một số tập đoàn tư nhân trong nước, cụ thể là vay nợ quá mức để theo đuổi các dự án rủi ro, không có hiệu quả cao về mặt kinh tế, không có tính bền vững về mặt tài chính. Tình trạng bóp nghẹt cạnh tranh ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng đang trở nên càng ngày càng phổ biến." Mục tiêu 10%: Tăng tốc quá nhanh? Mặt khác, đạt mức tăng trưởng từ 10% trở lên theo mục tiêu mà ông Tô Lâm đề ra, trong khi phải giảm sự phụ thuộc vào đầu tư nước ngoài và đối phó với các rào cản thương mại sẽ là thử thách đối với Việt Nam trong những năm tới. Tuần báo của Anh The Economist trong bài viết đăng ngày 08/01/2026, ghi nhận “nền kinh tế Việt Nam, nhờ xuất khẩu tăng mạnh, đã đạt mức tăng trưởng 8% trong năm 2025 – nhanh nhưng vẫn thấp hơn mục tiêu 8,3-8,5% của năm. Mặc dù mục tiêu 10% của năm nay có vẻ khó đạt được hơn, nhưng vẫn có lý do để lạc quan: Những cải cách lớn nhất của ông Lâm vẫn chưa phát huy hết tác dụng, trong đó có Nghị quyết 68, một nỗ lực nhằm thúc đẩy khu vực tư nhân bằng các biện pháp ưu đãi thuế và giảm bớt thủ tục hành chính. Các cơ quan quản lý đã được yêu cầu chấp nhận rủi ro cao hơn khi phê duyệt các dự án.” Vấn đề là theo The Economist, “hiện vẫn chưa rõ các tập đoàn lớn của Việt Nam sẽ chịu trách nhiệm như thế nào nếu họ không hoàn thành các dự án quan trọng. Một số tập đoàn ngại rủi ro nếu không có sự hỗ trợ của nhà nước. Ví dụ, vào ngày 25/12 vừa qua, Vingroup đã rút khỏi dự án trị giá 67 tỷ đôla xây dựng tuyến đường sắt xuyên Việt Nam. Tập đoàn này đã yêu cầu 80% dự án được tài trợ bằng khoản vay không lãi suất từ nhà nước, nhưng nhà nước đã từ chối. Các tập đoàn khác có thể sẽ thay Vingroup tham gia dự án, nhưng tình trạng tương tự vẫn sẽ tiếp diễn. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, dù gây ấn tượng mạnh, vẫn dễ bị ảnh hưởng bởi thái độ tùy hứng của một vài doanh nghiệp.” Về phần mình, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp e ngại là tăng tốc quá nhanh sẽ gây phản ứng ngược cho nền kinh tế Việt Nam: "Chúng ta thấy là năm 2025 vừa qua Việt Nam cũng đã nỗ lực rất nhiều, nhưng chỉ đạt được mức tăng trưởng 8%. Thậm chí có nhiều người đặt câu hỏi liệu có phải là thực sự 8%, hay chỉ là một con số được "chế biến" để có thể đáp ứng được các mục tiêu chính trị của ban lãnh đạo. Tăng trưởng ít nhất 10% trong thời gian tới là một mục tiêu rất là thách thức. Việt Nam một hai năm trước chỉ đạt tăng trưởng 6 hay 7%. Bây giờ trong vòng một hai năm Việt Nam muốn tăng trưởng lên 10% thì tôi nghĩ rằng người ta đã đốt cháy giai đoạn ở một mức độ nào đấy. Muốn tăng tốc thì ta phải tăng tốc từ từ. Tôi sợ rằng trong thời gian tới, nếu Việt Nam quá nôn nóng để tăng trưởng và sử dụng các biện pháp không bền vững, không hiệu quả về lâu dài, thì có thể gặp sự cố, có thể là không phải ngay trong trước mắt 1, 2 năm tới, mà có thể là 3, 4 năm tới. Khi nền kinh tế phát triển quá nóng và dựa trên việc bơm tiền vào nền kinh tế, mà không dựa vào các biện pháp mang tính bền vững như phát triển khoa học công nghệ hay đổi mới sáng tạo, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thể gặp các vấn đề nghiêm trọng trong vòng 4 đến 5 năm tới. Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc rất nhiều vào đầu tư nước ngoài, nhưng trong bối cảnh môi trường địa chính trị toàn cầu gặp rất nhiều biến động như vậy, vốn đầu tư nước ngoài Việt Nam có thể bị chựng lại, thậm chí có thể giảm trong thời gian tới. Việt Nam cũng phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu, đặc biệt là thương mại với Mỹ. Năm ngoái chúng ta thấy là thuế đối ứng chỉ bắt đầu được áp dụng vào nửa cuối năm, còn nửa đầu năm thì thuế đối ứng này chưa có tác động nhiều. Năm nay chúng ta sẽ thấy bức tranh toàn cảnh hơn về tác động của thuế đối với kinh tế Việt Nam. Trong trường hợp thuế đối ứng này làm giảm xuất khẩu Việt Nam, thì rõ ràng mục tiêu tăng trưởng 10% của Việt Nam cũng sẽ bị ảnh hưởng. Thứ ba là tiêu dùng cá nhân ở Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Tiêu dùng chủ yếu vẫn tập trung ở một số bộ phận cư dân thu nhập cao ở thành thị. Còn rất nhiều gia đình đang thắt lưng buột bụng. Trong bối cảnh đấy, tiêu dùng khó có thể tăng trưởng mạnh để trở thành một động lực của nền kinh tế. Bên cạnh đấy, các động lực mới sẽ được ưu tiên phát triển trong cái thời gian tới, như khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, hay phát triển doanh nghiệp tư nhân thì vẫn cần thời gian không chỉ một hai năm mà có lẽ lâu hơn mới có thể phát huy tác dụng, để trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai. Trong bối cảnh đấy thì có lẽ các đòn bẩy quan trọng nhất mà chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục sử dụng đấy là chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng, đặc biệt là thông qua đầu tư công, đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng để kích thích kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, biện pháp này đi kèm với mặt trái, đó là có thể dẫn tới giá tài sản tăng nhanh, dẫn tới bong bóng thị trường bất động sản, có thể đe dọa ổn định tài chính của Việt Nam và tạo ra những mầm móng bất ổn cho kinh tế Việt Nam trong lâu dài." | — | ||||||
| 1/19/26 | ![]() Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam XIV : Sự cân bằng quyền lực giữa công an và quân đội | Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XIV diễn ra từ ngày 19 đến 25/01/2026 được nhấn mạnh là "Đại hội tiến vào kỷ nguyên mới". Những định hướng chính trị chính cho 5 năm tới được thông qua trong dịp này. Nhưng vấn đề được quan tâm nhất : Ai sẽ là tổng bí thư ? Tổng bí thư Tô Lâm, 68 tuổi, được cho là sẽ tiếp tục giữ chức vụ cao nhất trong Đảng thêm một nhiệm kỳ. Thậm chí, có thông tin tổng bí thư sẽ kiêm nhiệm chức chủ tịch nước, như mô hình của Trung Quốc, Bắc Triều Tiên… Trong trường hợp đó, mối quan hệ với bên quân đội sẽ như thế nào vì chủ tịch nước hiện nay là đại tướng quân đội Lương Cường ? Các nhà tân lãnh đạo Việt Nam sẽ phải đối mặt với những thách thức như thế nào trong bối cảnh chính trường quốc tế đầy biến động ? Giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp, trả lời một số câu hỏi của RFI Tiếng Việt. RFI : Ngoại trưởng Lê Hoài Trung nhấn mạnh Đại hội Đảng lần thứ XIV là "sự kiện mang ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển đất nước". Vậy thách thức trong 5 năm tới đối với ban lãnh đạo mới là gì ? Benoît de Tréglodé : Nói là "Thời điểm bước ngoặt" ư ? Đời sống chính trị của chế độ Việt Nam được chi phối bởi chu kỳ các Đại hội đảng Cộng sản Việt Nam. Thời điểm năm 2026 này cũng không then chốt hơn thời điểm cách đây 5 năm, vào năm 2021. Rõ ràng đây là những mốc thời gian, lần nào cũng thực sự quan trọng khi đưa đời sống chính trị Việt Nam trở lại chu trình liên tục, không gián đoạn. Đây là những yếu tố giữ cân bằng đời sống chính trị Việt Nam. Đọc thêmViệt Nam trước Đại hội Đảng: Yếu tố Trung Quốc và lá bài Hoa Kỳ Điều thú vị là trong nhiệm kỳ này có hai ngày trọng đại, đánh dấu khởi đầu và gần như kết thúc nhiệm kỳ. Những ngày kỷ niệm luôn rất quan trọng để hiểu được vị trí trung tâm của một chế độ và các nhà lãnh đạo. Việt Nam của nhiệm kỳ thứ XIV sẽ bắt đầu bằng sự kiện kỷ niệm có ý nghĩa nền tảng đối với ông Tô Lâm, cũng như với toàn bộ giới lãnh đạo chính trị đất nước : Đó là kỷ niệm 40 năm Đổi Mới. Khẳng định nền tảng và định hướng kinh tế của đất nước thông qua một lễ kỷ niệm đánh dấu thời kỳ mở cửa kinh tế là một biểu tượng không thể quan trọng hơn đối với một đất nước đang đặt việc theo đuổi phát triển và tăng trưởng kinh tế làm trọng tâm trong mọi tham vọng và dự án của mình. Lễ kỷ niệm thứ hai, rất quan trọng, đánh dấu cho nhiệm kỳ này, đó là việc tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Đảng 1930-2030. Và đây cũng là trách nhiệm của ban lãnh đạo sẽ được bầu chọn vào cuối tuần. Trong cả hai trường hợp, chúng ta đều đề cập tới hai trụ cột, hai nền tảng cơ bản của hệ thống Việt Nam hiện nay. Đó là sự tiếp nối của chính sách kinh tế đầy tham vọng về tăng trưởng và mở cửa. Ở điểm này, tôi tin là sẽ không có bất kỳ sự thay đổi hay điều chỉnh nào. Việt Nam đã khẳng định vị thế vững chắc trong khu vực và trên trường quốc tế. Việc này phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển kinh tế của đất nước. Và Đảng lại tìm thấy ở đó cơ sở cho tính hợp pháp và duy trì thế độc quyền của mình. Việc một nước Việt Nam có mức tăng trưởng 8% hàng năm củng cố đáng kể vị thế của Đảng trong xã hội Việt Nam và trên trường quốc tế. Đọc thêmMột mình tiếp tổng thống Mỹ, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản Việt Nam Về trụ cột thứ hai, đội ngũ lãnh đạo mới, được lựa chọn vào cuối kỳ Đại hội, sẽ nhắc lại hơn bao giờ hết rằng vai trò của người tổ chức, của người lãnh đạo tối cao của đảng Cộng Sản Việt Nam, sẽ tuyệt đối không được thay đổi và phải bằng mọi giá củng cố chiến lược thực dụng, thực tế về kinh tế của đất nước. RFI : Chúng ta đã nhắc đến những thách thức, những tham vọng về kinh tế, và trong bối cảnh những thay đổi toàn cầu, các nhà tân lãnh đạo của đất nước, đặc biệt là tổng bí thư cần phải có những kỹ năng, phẩm chất nào và phải đáp ứng những điều kiện gì để có thể thành công ? Benoît de Tréglodé : Câu hỏi này khá phức tạp, không thể tóm gọn trong vài điểm. Phẩm chất quan trọng nhất của một tổng bí thư đảng là từng giữ chức tổng bí thư và sở hữu kiến thức cũng như mạng lưới quan hệ cần thiết để duy trì vị trí, và từ vị trí đó có thể bảo đảm sự liên tục của chính sách quốc gia. Vào đúng ngày khai mạc Đại hội Đảng XIV và chỉ bốn đến năm ngày trước khi diễn ra các phiên thảo luận cuối cùng, thì cũng không phải là không thể đưa ra một số giả định. Các nhà phân tích đã bàn luận về vấn đề này trong vài tuần qua. Rất có thể tổng bí thư đương nhiệm muốn tiếp tục tại vị. Và tin đồn còn đi xa hơn khi cho rằng ông Tô Lâm dường như muốn mở rộng vai trò và phạm vi chức năng bằng cách kiêm nhiệm thêm chức chủ tịch nước. Đây là điều không có gì đặc biệt ở Việt Nam, đã từng xảy ra và không phải là hiếm gặp ở các quốc gia khác có hệ thống chính trị tương tự. Ví dụ Trung Quốc và vai trò của Tập Cận Bình trong việc hoạch định cả chính sách đối nội lẫn đối ngoại. Đọc thêmViệt Nam : “Quốc tế hóa” vai trò của tổng bí thư đảng Cộng Sản Một điều thú vị khác cần lưu ý, cho dù không muốn đi trước thời gian biểu của đại hội cũng như thời điểm công bố các quyết định vào cuối tuần này, là trên thực tế, 18 tháng đầu cầm quyền của ông Tô Lâm cho thấy tổng bí thư đương nhiệm đã can thiệp rất tích cực và quyết liệt vào cả chính sách đối nội, lẫn đối ngoại. Do đó, có thể nói rằng phạm vi hoạt động của hai lĩnh vực này đã được cùng một cá nhân khai thác triệt để. Vì vậy, xin nhắc lại là không phải là không thể dự đoán được quyết định được đưa ra vào cuối tuần này. RFI : Nếu hai vị trí cao nhất được sáp nhập, việc này sẽ tác động như thế nào đối với bên quân đội trong “ngũ trụ”, sắp tới có thể là “tứ trụ” ? Benoît de Tréglodé : Điều đầu tiên tôi nghĩ đến là việc phân chia sẽ như thế nào. Nói một cách khái quát, ông Tô Lâm sẽ để lại chút ít gì cho quân đội nếu họ không muốn làm mất mặt quân đội. Nhưng tôi nghĩ quân đội sẽ mất khá nhiều ; họ đã mất khá nhiều nếu việc sáp nhập này diễn ra. Nhưng trong nội bộ Bộ Chính Trị, chuyện sẽ diễn ra như thế nào đối với bên quân đội ? Đây là việc rất quan trọng. Việc sáp nhập hai vị trí tổng bí thư và chủ tịch nước là một vấn đề rất phức tạp nhìn từ góc độ Hiến Pháp. Chủ tịch nước Việt Nam là người đứng đầu lực lượng vũ trang và, theo một cách nào đó, cũng là người đứng đầu Ủy ban Quốc phòng và An ninh. Vì vậy, từ góc độ đó, việc không còn trao chức chủ tịch nước cho một sĩ quan quân đội, mà lại tự cho mình nắm giữ chức vụ đó, đã đặt ra nhiều vấn đề gây khó khăn cho bộ trưởng Quốc Phòng đương nhiệm trong việc đàm phán. Xin nhắc lại là năm 2025, Hội nghị lần thứ 15 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII được khai mạc vào đúng ngày mang tính biểu tượng, ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12. Đọc thêmHà Nội căng thẳng trước thềm đại hội đảng : Quân đội có cản bước cải cách của ông Tô Lâm? Vấn đề thực sự quan trọng trong đại hội lần này là nếu ông Tô Lâm quyết định giữ cả hai vị trí này thì ông cũng tránh gây tổn hại không đáng có cho Quân đội Việt Nam và các đại diện của Quân đội, trong trường hợp hiện nay là bộ trưởng bộ Quốc Phòng. Hiện tại vẫn còn hơi sớm để thảo luận về quyết định này vì chúng ta chưa biết kết quả, mà phải chờ tới cuối Đại hội Đảng XIV. Nhưng giả sử có sự phân bổ quyền lực này và nhìn từ quan điểm cá nhân, ông Tô Lâm với tư cách là tổng bí thư, người có thể nắm giữ cả hai vị trí, và ông Tô Lâm với tư cách là tướng Công an với bộ Công An cùng với mạng lưới đằng sau, chuyện này sẽ diễn ra như thế nào trong mối quan hệ với Quân đội và bộ Quốc Phòng, một trụ cột khác của bộ máy an ninh và quyền lực Việt Nam ? Sự cân bằng giữa hai chủ thể an ninh vô cùng lớn này, mà chúng ta không nên quên hiện đã trở thành các chủ thể chính trị và kinh tế, là cốt lõi của tương lai chế độ chính trị Việt Nam. RFI : Cuộc cải cách hành chính năm 2025 cũng có những tác động nhất định đến vai trò của tổng bí thư ? Benoît de Tréglodé : Tổng bí thư Tô Lâm - người biết rằng ông thực sự không có đối thủ nào trong bộ máy thể chế Việt Nam và cũng biết rằng sự nổi tiếng của ông có thể biến động theo thời gian và bằng cách cố nắm bắt, thực hiện một bước đi quan trọng để tận dụng lợi thế của việc sáp nhập tiềm năng và quyền lực gần như tùy ý trong bộ máy Nhà nước Việt Nam - sẽ cần các công cụ hiến pháp giúp ông tiến lên, cho phép ông thi hành các quyết định của mình. Trong một chế độ mà Việt Nam gọi là "nền dân chủ nhân dân", các quyết định không phải do một người đưa ra mà phải được một bộ máy phê chuẩn, trong trường hợp này là Quốc Hội và các cơ quan khác. Do đó, tự do của ông Tô Lâm cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong bộ Chính Trị, và đa số này cũng phụ thuộc vào đa số mà ông sẽ có trong Ban Chấp hành Trung ương. Vì vậy nếu ông Tô Lâm thực sự theo đuổi hoạt động chính trị ở Việt Nam, ông cần có một Ban Chấp hành Trung ương ủng hộ ông, một Bộ Chính Trị ủng hộ ông và một Quốc Hội thông qua các quyết định của ông. Trong mọi trường hợp đó, cải cách hành chính đều có tác động, đều có những hệ quả đối với cơ cấu của các cơ quan ra quyết định quan trọng ở Việt Nam. Cho nên có thể hiểu rằng việc thực hiện cải cách hành chính năm 2025 cũng liên quan trực tiếp đến mong muốn của người khởi xướng là có được những cơ quan nắm giữ quyền lực chính trị quan trọng ở Việt Nam đứng sau ông và xác nhận các hành động của ông. Đọc thêmQuyền lực cá nhân tổng bí thư thông qua quá trình tinh giản bộ máy hành chính ở Việt Nam RFI : Sau Đại hội, công cuộc chiến chống tham nhũng sẽ được tiếp tục thực hiện ? Và liệu có quyết liệt như đang làm hiện nay không ? Benoît de Tréglodé : Cần phải nhắc lại rằng tham nhũng là một vấn đề còn lâu mới giải quyết được và không phụ thuộc vào chu kỳ 5 năm của các Đại hội Đảng. Tham nhũng gắn liền mật thiết với khái niệm phát triển kinh tế. Và tham nhũng cũng gắn liền mật thiết với cách hoạt động và tài trợ của bộ máy hành chính. Sự phát triển kinh tế ở hầu hết các nước châu Á đều bao gồm, hoặc đi kèm với sự gia tăng các hành vi tham nhũng khá phổ biến. Vì vậy, không nên cố gắng đưa việc chấm dứt, kết thúc hoặc tiếp tục các chiến dịch chống tham nhũng vào chương trình nghị sự của mỗi Đại hội Đảng. Đọc thêmChống tham nhũng thời hậu Nguyễn Phú Trọng: Sẽ vẫn "diệt chuột không để vỡ bình" Tham nhũng đã, đang và sẽ tiếp tục xảy ra, điều đó là chắc chắn. Và mọi chuyện sẽ không sớm dừng lại nay mai. Năm 2025 được đánh dấu bởi cuộc cải cách hành chính của ông Tô Lâm, với tham vọng đơn giản hóa và hiện đại hóa bộ máy Nhà nước, và cũng bao gồm cả tham vọng hạn chế số lượng các trung gian tại các cơ quan chính phủ, vốn luôn là cơ hội nảy sinh các hành vi tham nhũng ở Việt Nam. Bản thân cuộc cải cách hành chính này đã bao hàm mong muốn hạn chế những hành vi lạm dụng hoặc tham nhũng. Cải cách này lại cũng diễn ra vào thời điểm thuận lợi, chỉ một năm trước Đại hội Đảng, còn rõ ràng mang tham vọng tái xác định vị trí hoặc tái tập trung quyền lực chính trị ở Việt Nam xung quanh Đảng và người khởi xướng cải cách. Vì vậy, rõ ràng là nhìn từ góc độ này, cuộc cải cách hành chính còn mang một chiều hướng chính trị rất rõ rệt : vừa hiện đại hóa bộ máy về mặt chức năng, vừa thâu tóm bộ máy về mặt chính trị. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giám đốc nghiên cứu Benoît de Tréglodé, Viện Nghiên cứu Chiến lược (IRSEM), Trường Quân sự Pháp. | — | ||||||
| 1/12/26 | ![]() Dự án nhà máy hạt nhân: Nhật Bản rút đi, Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu về điện nguyên tử | Nhu cầu tiêu thụ điện của ngành công nghiệp Việt Nam, nơi đặt cơ sở sản xuất của nhiều tập đoàn đa quốc gia như Samsung và Apple, thường xuyên vượt quá nguồn cung, vốn bị ảnh hưởng bởi thời tiết cực đoan ngày càng thường xuyên, như hạn hán và mưa bão. Trước tình hình này, Việt Nam muốn tăng sản lượng điện từ nhiều nguồn, chủ yếu là năng lượng tái tạo và khí đốt, nhưng các dự án đã bị chậm trễ và gặp trắc trở do các vấn đề quy định và giá cả, cho nên nay rất trông chờ vào điện hạt nhân. Sau khi quyết định khởi động lại chương trình năng lượng hạt nhân vào năm ngoái, Việt Nam đã giao cho Nga thực hiện dự án Ninh Thuận 1 và Nhật Bản thực hiện dự án Ninh Thuận 2. Vào đầu tháng 12 vừa qua, chính phủ Việt Nam vừa phê duyệt danh mục các công trình và dự án được xếp vào nhóm quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành năng lượng, trong đó có dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1, 2 tại Khánh Hòa. Theo lộ trình của chính phủ, 2 nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2 tại Khánh Hòa, công suất 2.000-3.200MW, dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động trong giai đoạn 2030-2035. Thế nhưng, chỉ vài ngày sau, Nhật Bản, một trong hai đối tác mà Việt Nam đã chọn, lại thông báo rút khỏi dự án hạt nhân. Hôm 08/12/2025, đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Naoki Ito nói với hãng tin Anh Reuters rằng Nhật Bản đã rút khỏi kế hoạch xây dựng nhà máy điện hạt nhân quy mô lớn tại Việt Nam “vì thời gian quá gấp rút”. Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ ngày 16/12/2025, giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, giải thích: "Thông tin mà đại sứ Nhật ở Việt Nam nêu ra tóm tắt là như thế này: Đấy là những công trình rất là lớn và tiêu chuẩn an toàn của nó thì càng ngày càng cao, mà Việt Nam đặt thời hạn quá gấp, tức là muốn năm 2035 phải xong. Ông ấy cho là không khả thi. Tôi thấy cũng đúng thôi: Đấy là loại lò thế hệ III+, tức là có trang bị các thiết bị chống lại mất an toàn bằng phương pháp thụ động. Trong thời gian gần đây, các lò có công suất tương đương như thế được xây ở Mỹ , ở Phần Lan, ở Trung Quốc, đặc biệt ở Bangladesh, do Nga giúp xây dựng. Công trình rất lớn và rất phức tạp, đòi hỏi tiêu chuẩn an toàn cao, nhưng Việt Nam lại yêu cầu là năm 2035 phải xong, thậm chí Việt Nam còn có một yêu cầu khác, tức là trong quá trình xây dựng lò như thế thì phải có chuyển giao công nghệ. Những điều đó là Nhật không thể thực hiện được. Nhật còn nói thêm là bây giờ, sau vụ Fukushima, hiện nay là ở Nhật cũng có những đòi hỏi về xây các lò phản ứng mới. Do đó họ không đủ khả năng để làm theo yêu cầu của Việt Nam. Căn cứ trên kết quả xây các lò loại thế hệ III + ở các nước thì đều hoặc là trễ tiến độ, hoặc là đội giá thành lên gấp một vài lần. Ở Bangladesh chẳng hạn, công trình do Nga trực tiếp làm đáng lý ra phải được đưa vào vận hành năm 2023, nhưng đã trễ sang năm 2024, rồi lùi sang năm 2025 và bây giờ phải đến tháng 12/26 may ra mới có thể vận hành được. Như thế rõ ràng việc xây dựng các lò lớn như thế hiện nay là một vấn đề rất khó khăn." Quyết định của Tokyo có thể làm phức tạp thêm chiến lược dài hạn của Việt Nam phát triển điện hạt nhân nhằm tránh tình trạng thiếu điện. Nói cách khác, Việt Nam khó mà đạt mục tiêu về thời hạn đặt ra cho 2 dự án nhà máy hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2: "Bây giờ Nhật Bản từ chối, như thế là Việt Nam cũng sẽ gặp khó khăn trong việc thực hiện các mục tiêu lớn của Việt Nam: phải có điện là một, điện sạch là hai và ngoài ra đến năm 2050 phải đạt trung hòa carbon. Những mục tiêu đó là rất là khó đạt. Nhưng đại sứ Nhật cũng có nói Nhật mở ra một khả năng, tức là sẽ tham gia phát triển các công nghệ lò gọi là lò module, có thể lắp ghép được, gọi là SMR, công suất khoảng vài trăm megawatt. Nhật Bản sẽ hợp tác với Việt Nam trong các dự án đó." Sau khi Nhật Bản rút khỏi dự án Ninh Thuận 2, phía Nga đã trấn an là họ sẽ không bỏ rơi Việt Nam. Theo báo chí trong nước, trong cuộc điện đàm ngày 11/12 với thủ tướng Phạm Minh Chính, tổng giám đốc Tập đoàn Rosatom của Nga đã cam kết hợp tác với Việt Nam "xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 theo công nghệ hiện đại nhất." Tuy nhiên, theo giáo sư Phạm Duy Hiển, cũng không chắc là Nga có thể làm theo đúng tiến độ như mục tiêu mà Việt Nam đề ra "Nga thì quyết tâm làm, khác với Nhật Bản. Họ còn có một chương trình hợp tác với Việt Nam rộng rãi hơn, bao gồm việc xây dựng trung tâm phát triển hạt nhân với lò phản ứng 10 MW và một số chuyện nữa liên quan đến nhiên liệu của trung tâm Đà Lạt. Đó là một dự án có thể nói là tổng hợp nhiều thứ và do đó việc họ phải làm dự án Ninh Thuận 1 là điều chắc chắn. Thế còn họ làm được đến mức nào thì như tôi nói khi nãy, căn cứ theo cái mà họ làm với Bangladesh thì thấy là trễ tiến độ khoảng hơn 7 năm. Cho nên nếu mà Việt Nam có làm, thì phải có những cọc mốc. Những cái cọc mốc đó rất là quan trọng, ví dụ như phải ký kết giữa hai bên, cam kết là nước Nga sẽ xây nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và cung cấp đủ tài chính để làm dự án. Cho đến bây giờ vẫn chưa thấy cọc mốc đó. Sau khi hai bên chính thức ký kết, có tiền bạc đủ rồi, tôi nghĩ ít nhất phải hơn 10 năm thì mới có thể hoàn thành được. Cho nên khả năng hoàn tất dự án vào năm 2035 đối với Nga cũng là không dễ. Tuy Nga chưa nói cụ thể hạn định nào,ví dụ như là bao giờ đổ mẻ bê tông đầu tiên để mà xây nhà lò , sau đó ít nhất là 7 năm, 8 năm thì mới hoàn thành. Bây giờ cho đến lúc đổ bê tông đầu tiên chưa thấy con đường đi như thế nào cả. Các nhà lãnh đạo Việt Nam có những kế hoạch, có những mục tiêu muốn đặt ra. Đối với một số công trình cổ điển thì có thể đặt kế hoạch năm này năm khác được, còn loại công trình này Việt Nam chưa hề có những trải nghiệm nào cả. Với kinh nghiệm trong những năm gần đây về xây các lò công suất lớn ở nhiều nước, kể cả những nước tư bản hiện đại, tôi cho rằng con đường đó sẽ không tồn tại lâu được. Những lò công suất trung bình, công suất bé có thể là giải pháp tổng thể cho bài toán điện hạt nhân của nhiều nước. Và nó cũng thích hợp với Việt Nam trong nhiều mặt, tức là về vấn đề chọn địa điểm, vấn đề vốn, vân vân... Có điều hiện nay chưa có nước nào đưa ra một lò thương mại hóa cho toàn thế giới cả. Mọi người đều có ý kiến là có thể loại lò đó sẽ chỉ được thương mại hóa sau năm 2030. Tôi nghĩ cũng có lý." Với sự chậm trễ trong các dự án xây dựng nhà máy điện hạt nhân, Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu điện trầm trọng và phải gấp rút tìm những nguồn năng lượng bổ sung, theo giáo sư Phạm Duy Hiển: "Tôi nghĩ là điều đó cần phải đem ra bàn bạc và đó là một nguy cơ có thể có. Hai nhà máy điện Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 đóng góp công suất rất lớn, mà bây giờ một nhà máy dứt khoát là không có rồi, cho nên là Việt Nam trong tương lai cho đến những năm 2040 là sẽ thiếu điện. Bây giờ trở lại dùng than thì khó .May ra hiện nay có một triển vọng là phát triển một số mỏ khí. Có những thông tin như vậy và cũng khá chắc chắn, thậm chí người ta cũng đã nói đến đường dẫn ống khí về đất liền. Tôi hy vọng đó là một nguồn có thể thay thế, nhưng cũng phải chờ những thông báo chính thức. Nếu không có những nguồn khí như vậy thì rõ ràng là Việt Nam phải đặt vấn đề lấy đâu ra nguồn để thay thế ít nhất là một nhà máy của Nhật sẽ không đưa vào hoạt động." Theo nguồn tin mà giáo sư Phạm Duy Hiển có được, Hàn Quốc đã chính thức nhận xây nhà máy điện hạt nhân thứ hai, thay chỗ của Nhật Bản và hiện "đang vào cuộc nhanh chóng". Tuy nhiên, hiện thông tin này chưa được chính thức xác nhận. Trong cuộc họp ngày 07/01 vừa qua, thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính đã bày tỏ quan ngại về sự chậm trễ trong dự án nhà máy hạt nhân, "tiến độ công việc chưa được như mong muốn, có nhiều vướng mắc phải tháo gỡ ngay như công tác đàm phán hiệp định hợp tác còn chậm, phụ thuộc nhiều vào các đối tác nước ngoài; bố trí vốn cho giải phóng mặt bằng…" Ông Phạm Minh Chính giao cho bộ Công Thương và bộ Ngoại Giao trong tháng 1/2026 phải kết thúc đàm phán với phía Nga về hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1. Đồng thời thủ tướng Việt Nam thúc giục tập đoàn Petrovietnam, bộ Công Thương, Bộ Ngoại Giao đề xuất lựa chọn thay thế Nhật Bản một đối tác mới "có công nghệ nguồn tiên tiến phù hợp với tình hình mới" để hợp tác đầu tư xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2. Nhưng có vẻ như Việt Nam không có lựa chọn nào khác ngoài việc phát triển các lò phản ứng hạt nhân kiểu module. Theo Nghị quyết phát triển năng lượng quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, được Quốc Hội Việt Nam thông qua, có hiệu lực từ ngày 1.3.2026, chính phủ được giao ban hành cơ chế đầu tư phát triển điện hạt nhân (ĐHN) module nhỏ (SMR) "theo từng thời kỳ, căn cứ nhu cầu và tình hình thương mại hóa công nghệ và đảm bảo an ninh, an toàn hạt nhân". | — | ||||||
| 1/5/26 | ![]() Mỹ trở lại Đông Nam Á: ASEAN và Việt Nam có giữ được cân bằng an ninh với Trung Quốc? | Tháng 10/2025, tổng thống Mỹ Donald Trump đến Kuala Lumpur, Malaysia, họp thượng đỉnh với các nước ASEAN nhằm trấn an đồng minh, đối tác. Hoa Kỳ đã ký nhiều thỏa thuận, cam kết liên quan đến an ninh với Việt Nam, Malaysia, Philippines, Cam Bốt. Liệu Đông Nam Á lại trở thành tâm điểm trong chính sách đối ngoại của Mỹ năm 2026 ? Tại sao Washington lại tái khẳng định hiện diện mạnh mẽ hơn ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Biển Đông, trong thời điểm này ? Liệu những cam kết như vậy có lợi cho Việt Nam không ? RFI Tiếng Việt phỏng vấn nhà nghiên cứu địa-chính trị Laurent Gédéon, tại Viện Đông Á (Institut d’Asie orientale), Trường Sư phạm Lyon (ENS Lyon), Pháp. RFI : Việc Hoa Kỳ trở lại hội nghị thượng đỉnh châu Á gửi đi một tín hiệu chính trị mạnh mẽ. Washington thực sự đang tìm kiếm điều gì thông qua việc tái khẳng định sự hiện diện của họ ở Đông Nam Á này ? Laurent Gédéon : Đúng là Pete Hegseth đã đến Kuala Lumpur ngày 30/10/2025 để tham dự cuộc họp của các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng. Có thể thấy rõ Mỹ muốn tận dụng cơ hội này để tái khởi động mối quan hệ với ba kiểu quốc gia : Trung Quốc ; các nước trong khu vực có quan hệ tốt nhưng không mang tính chiến lược ; các nước có mối liên hệ chặt chẽ với Mỹ về quốc phòng. Ông Hegseth đã gặp bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Đổng Quân để thảo luận về việc nối lại các cuộc trao đổi quân sự trực tiếp giữa Washington và Bắc Kinh, nhưng cũng chia sẻ những lo ngại của Mỹ về hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông và xung quanh Đài Loan. Thông qua cuộc gặp với người đồng cấp Trung Quốc, bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ muốn tái khẳng định cam kết của Washington về hai vấn đề này. Rất có thể là việc tỏ thái độ kiên quyết đó chủ yếu nhằm mục đích trấn an các bên khác tham dự hội cấp cao về quyết tâm của Washington. Ngoài ra, ông Hegseth cũng đã tận dụng cơ hội đó để ký nhiều thỏa thuận quân sự với ba quốc gia trong khu vực. Trước tiên là với Philippines, ông Hegseth gặp bộ trưởng Quốc Phòng Philippines và tuyên bố thành lập Lực lượng Đặc nhiệm Philippines (Task Force-Philippines). Đây là một sáng kiến chung nhằm cải thiện sự hợp tác và khả năng tương tác giữa Mỹ và Philippines trong trường hợp khẩn cấp ở Biển Đông và các khu vực khác. Đọc thêmMỹ và Malaysia củng cố hợp tác quốc phòng ở Biển Đông để đối phó với "chiến thuật vùng xám" Với Malaysia, ông Hegseth đã họp với bộ trưởng Quốc Phòng Mohamed Khaled Nordin. Hai bên đã ký một bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng, công bố gia hạn thỏa thuận chung về mua sắm thiết bị quân sự và hỗ trợ nhau. Và cuối cùng, với Cam Bốt, ông và người đồng cấp Cam Bốt đã tuyên bố nối lại cuộc tập trận chung thường niên, vốn bị đình chỉ từ năm 2017. Hai bên cũng đề cập đến khả năng một tàu chiến của Mỹ đến thăm Căn cứ Hải quân Ream ở Cam Bốt. Căn cứ này được Trung Quốc hỗ trợ hiện đại hóa và lực lượng Trung Quốc được hưởng quyền tiếp cận đặc biệt. Tất cả những yếu tố này, bao gồm cả cuộc gặp với bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam, đều thể hiện rõ mong muốn tái đầu tư của Mỹ vào khu vực và, thông qua các thỏa thuận này, mong muốn tích hợp một số nước trong khu vực vào một cấu trúc an ninh trong tương lai mà phần nào có thể nhắm đến Trung Quốc. RFI : “Nước Mỹ trên hết không có nghĩa là Nước Mỹ đơn độc”. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Điều này đã được thể hiện qua quan hệ đối tác an ninh giữa Mỹ với Malaysia và với Philippines, như ông đã giải thích. Liệu sự trở lại ấn tượng như vậy có thuyết phục được các nước ASEAN và có lợi cho họ không, khi mà những nước này không hề nhắc đích danh Bắc Kinh trong những lời chỉ trích về hành động gây bất ổn của Trung Quốc ? Laurent Gédéon : Đúng vậy, không gian hàng hải đã được nhấn mạnh thành trọng tâm bởi vì trong tuyên bố ngày 01/11/2025, ông Hegseth nói : Chúng tôi đang thực hiện nguyên tắc “Nước Mỹ trên hết”. Nhưng “Nước Mỹ trên hết” không có nghĩa là chỉ riêng nước Mỹ. Nó có nghĩa là cùng với các đồng minh và đối tác của chúng tôi, những bên có khả năng duy trì an ninh, ổn định, tự do hàng hải và cuối cùng là hòa bình. Mặc dù các nước ASEAN không nêu đích danh Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh đã được bộ trưởng Chiến Tranh Mỹ nhắc đến rất nhiều. Ví dụ, trong cuộc họp không chính thức, ông Hegseth đã cảnh báo các bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN về mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra cho chủ quyền của nước họ. Ông nói : Hành động của Trung Quốc là một lời cảnh tỉnh... Các hành động khiêu khích của Trung Quốc cũng thể hiện sự thiếu tôn trọng đối với đất nước của quý vị, thách thức và đe dọa chủ quyền lãnh thổ của đất nước quý vị. Ông Hegseth tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ trong việc duy trì một khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương an toàn và ổn định. Ông cũng cổ vũ sự hợp tác giữa Mỹ và ASEAN để phát triển nhận thức tình hình hàng hải chung, đặc biệt là ở Biển Đông. Đây là điểm quan trọng. Thêm vào đó, ngày 09/09, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ đã nói với người đồng cấp Trung Quốc Đổng Quân rằng Mỹ có những lợi ích sống còn ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mà Washington coi là một khu vực hoạt động ưu tiên, và Mỹ sẽ kiên quyết bảo vệ những lợi ích đó. Tuy nhiên, có thể nhận thấy cho dù Mỹ thể hiện quyết đoán, có lập trường vững chắc như vậy, các quốc gia trong khu vực vẫn còn khá lưỡng lự về mức độ cam kết của Washington đối với các vấn đề như Biển Đông và Đài Loan. Thái độ lưỡng lự này được thôi thúc bởi điều được gọi là “sự mơ hồ chiến lược” của Mỹ, khi Washington không nêu rõ là sẽ tham gia hay không, hoặc là họ sẽ tham gia như thế nào vào một cuộc xung đột công khai với Trung Quốc. RFI : Sự trở lại của Mỹ, hay nói đúng hơn là sự tăng cường cam kết của Mỹ đối với khu vực có thể sẽ mang lại lợi ích như thế nào cho Việt Nam ? Laurent Gédéon : Tôi nghĩ rằng bất kỳ sự tái đầu tư nào của Mỹ vào khu vực, nếu không dẫn đến xung đột trực tiếp với Trung Quốc, đều chỉ có lợi cho Việt Nam, vì nó củng cố cán cân chiến lược khu vực và giảm bớt quan hệ bất đối xứng với Trung Quốc, ngay cả khi không có thỏa thuận quân sự chính thức giữa Hà Nội và Washington. Đọc thêmBiển Đông, Trung Quốc : Việt Nam cần đề phòng khả năng Trump "rũ áo" như với Ukraina? Do đó, chắc chắn rằng lập trường kiên quyết của ông Hegseth, đặc biệt là về Biển Đông, chỉ có thể được Hà Nội hoan nghênh vì nó phù hợp với các tuyên bố và yêu cầu của Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn tồn đọng một sự bất trắc chiến lược, đặc biệt là về ý muốn thực sự của Mỹ trong việc ngăn chặn chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc bằng vũ lực nếu tình hình đòi hỏi. Điểm bất trắc thứ hai liên quan đến kết quả của một cuộc đối đầu tiềm tàng giữa Trung Quốc và Mỹ. Các kịch bản được thảo ra cho kết quả khác nhau, và không phải tất cả đều cho rằng lực lượng Mỹ thắng quân đội Trung Quốc. Do đó, tôi tin rằng những điểm không chắc chắn này sẽ khiến Việt Nam tiếp tục thận trọng trong lập trường ngoại giao, ưu tiên giữ trung lập giữa Washington và Bắc Kinh để bảo vệ tương lai của mình. RFI : Thỏa thuận được gọi là “Thỏa thuận hòa bình” giữa Thái Lan và Cam Bốt được ký kết dưới sự bảo trợ của tổng thống Mỹ Donald Trump. Sự kiện này cho thấy mức độ ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng liệu kiểu ảnh hưởng đó, dưới sự đe dọa về hậu quả kinh tế, có bền vững hay không ? Laurent Gédéon : Chính sách của chính quyền Trump nhìn chung được coi là tương đối khó đoán, điều này làm suy yếu niềm tin vào tính ổn định chiến lược của Hoa Kỳ. Về thỏa thuận do Donald Trump, thủ tướng Thái Lan và thủ tướng Cam Bốt cùng ký, mặc dù được mô tả là một “thỏa thuận hòa bình”, nhưng nó giống với một thỏa thuận ngừng bắn hơn, bởi vì không giải quyết được vấn đề cốt lõi, liên quan đến tranh chấp biên giới giữa hai nước. Đọc thêmChính sách thuế của Trump cản trở chiến lược « xoay trục sang châu Á » của Mỹ Đúng là Donald Trump tự nhận là đóng vai trò quan trọng trong quá trình này, nhất là bằng cách đe dọa đình chỉ các cuộc đàm phán thương mại với cả hai nước và tăng thuế quan. Điều này diễn ra trong bối cảnh Cam Bốt lúc đó chịu mức thuế 49% và Thái Lan 36%. Rõ ràng là áp lực của Mỹ đã thúc đẩy cả hai bên tạm ngừng giao tranh nhưng không chấm dứt được xung đột. Hơn nữa, hai quốc gia khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tạm thời tranh chấp : Malaysia, quốc gia giữ chức chủ tịch ASEAN năm 2025, và Trung Quốc. Cả Kuala Lumpur và Bắc Kinh đều gây áp lực để ngăn chặn xung đột leo thang, bởi vì sẽ đi ngược lại lợi ích của họ. Do đó, sáng kiến của Mỹ quan trọng nhưng cần được xem xét dưới góc độ hai hạn chế sau đây : Thứ nhất, đây không phải là một giải pháp dứt điểm cho xung đột, mà chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn ; Thứ hai, điều đó chỉ có thể thực hiện được nhờ hành động phối hợp, dù kín đáo, của hai quốc gia khác. Và đó chính là cách mà các nước trong khu vực nhìn nhận và phân tích. RFI : Philippines giữ chức chủ tịch luân phiên ASEAN năm 2026. Manila có lập trường cứng rắn đối với Trung Quốc, cùng với cam kết của Mỹ, về vấn đề Biển Đông. Chúng ta có thể kỳ vọng những diễn biến nào trong năm 2026 ? Laurent Gédéon : Đúng là rất khó để dự đoán tương lai. Nhưng những yếu tố hiện có cho thấy Philippines, quốc gia đã xích lại gần hơn đáng kể với Mỹ kể từ khi ông Ferdinand Marcos Jr. lên nắm quyền vào năm 2022, có thể sẽ tìm cách thúc đẩy một động thái cứng rắn hơn, hoặc thậm chí là cưỡng chế, đối với Trung Quốc. Ví dụ, Philippines có thể sẽ cố gắng khôi phục việc xây dựng Bộ Quy tắc Ứng xử (COC) ở Biển Đông. Dự án này có từ năm 2002 nhưng chưa bao giờ thành hiện thực, chủ yếu là do Trung Quốc thiếu hành động. Chính quyền Manila cũng có thể cố gắng đạt được sự lên án rõ ràng đối với các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông, điều mà ASEAN chưa từng làm cho đến nay. Tuy nhiên, Philippines sẽ phải tính đến việc các nước thành viên ASEAN có mức độ quan hệ khác nhau với Trung Quốc, điển hình như các nước Cam Bốt, Thái Lan và Miến Điện sẽ cố gắng làm giảm nhẹ bất kỳ sáng kiến nào của nước chủ tịch ASEAN mà họ coi là không thân thiện, hoặc quá không thân thiện với Trung Quốc. Đọc thêmPhilippines-Mỹ-Nhật diễn tập tại Biển Đông, Trung Quốc kêu gọi Manila ngừng khiêu khích Một điểm đáng chú ý khác, có thể sẽ được quan tâm trong năm 2026, liên quan đến Đài Loan và khả năng Trung Quốc tiến hành hành động quân sự nhắm đến hòn đảo. Nếu kịch bản này xảy ra và Mỹ can thiệp, Philippines sẽ ở tuyến đầu, thậm chí có thể là một bên tham chiến. Trong giả thuyết này, câu hỏi đặt ra là về khả năng hành động và mức độ chủ động của Philippines trong ASEAN, bởi vì Philippines vừa là một bên tham gia xung đột vừa giữ chức chủ tịch ASEAN. Do đó, năm 2026 chắc chắn sẽ có rất nhiều biến động và cần được theo dõi sát sao. RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nhà nghiên cứu Laurent Gédéon, giảng viên Trường Sư phạm Lyon. | — | ||||||
Showing 24 of 24
Pitch Fit is a Pro feature
See how bookable this show is for guests, which brands already advertise, the per-episode ad value, and the best-fit guest and sponsor profile. The numbers are blurred on the free plan.
How readily this show books outside guests like you.
How proven this show is for host-read sponsorships.
For Guests
ProFor Advertisers
ProUpgrade to Pro to unlock guest cadence, sponsor categories, fit scores, and per-episode ad value for this show.
Chart Positions
10 placements across 10 markets.
Chart Positions
10 placements across 10 markets.
